Tội ác Khơ me đỏ

Thảo luận trong 'Tin Tức - Thời Sự tổng hợp' bắt đầu bởi Lamson81, 31 / 08/ 2011.

  1. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    CUỘC TRÙNG-PHÙNG HÃN-HỮU SAU HƠN 20 NĂM LY-BIỆT.
    Sau 4 tháng làm việc lao-động ở Battambang để kiếm chút lương thực đi đường, chúng tôi tới Ampil, rồi lưu lạc đến nông trường Cheom Khsan. Mỗi khi đến 1 nơi nào, chúng tôi đều phải điền vào 1 tờ khai lý-lịch giống hệt nhau, Viên Kamaphibal của vùng này khoảng chừng 50 tuổi, nhưng cũng như hầu hết các tên chỉ huy Khờ-Me đỏ khác, vẻ mặt in sâu dấu vết chiến tranh và cả những triệu chứng bịnh-hoạn nữa. Trán hắn đầy vết nhăn và đôi mắt lúc nào cũng có vẻ ướt như vừa mới khóc. Khi đã đọc xong tờ khai lý-lịch của tôi, hắn nhìn tôi chằm chặp, không chớp mắt. Hắn nhìn tôi chán rồi lại cúi xuống đọc tờ khai lý-lịch nữa. Cuối cùng hắn chỉ cho tôi biết, tôi còn bỏ sót 1 khoảng rất quan hệ trong tờ khai. Hắn nói:
    - Đồng chí quên chưa điền chi tiết vào mục “dấu vết đặc biệt trên cơ-thể”. Đồng chí có chắc rằng không có 1 vết sẹo hay 1 vết tích nào trên người không? Mục này rất cần yếu.
    Tôi đứng tần ngần, suy nghĩ giây lát. Khi bất chợt nhớ ra, tôi kêu lên:
    - Dạ có! Xin lỗi đồng chí Kamphibal. Tôi có 1 vết sẹo trên đỉnh đầu mà quên chưa ghi.
    - Sao lại có cái sẹo ấy? Đồng chí bị đá hay bị đánh?
    - Tôi cũng không biết nữa, thưa đồng chí. Khi lớn lên, một hôm tình cờ soi gương, tôi mới thấy. Đó là vào dịp tôi phải cạo đầu đi tu theo tục của mọi người con trai Căm-Bu-Chia.
    - Hãy lại gần đây cho tôi coi kỹ xem nào! Viên Kamaphibal nói.
    Tôi bước đến trước hắn, cúi đầu xuống, vạch tóc ra cho hắn nhìn kỹ vét sẹo trên đỉnh đầu tôi. Viên chỉ huy Khờ-Me đỏ vội đứng lên ôm chầm lấy tôi và bật khóc nức nở. Hắn nghẹn ngào không nói được lời nào mà chỉ ôm chặt lấy tôi và khóc thôi. Tôi vô cùng kinh ngạc, cứ đứng im để cho hắn ôm ghi vào lòng và khóc. Cuối cùng hắn cố nén xúc động, chậm rãi nói đứt quãng từng tiếng một;
    - Chấn ơi, con là con của ba nè! Ba rất sung sướng mà gặp lại được con sau bao nhiêu năm xa cách. Đây là 1 câu chuyện rất dài dòng, ba sẽ lần lượt kể hết cho con nghe. Nhưng trước hết, con hãy cho ba biết tin về mẹ của con, dì Minh Soum, người làm công cho gia đình cựu trung sĩ Ouch Sokha. Bây giờ mẹ con ở đâu?
    - Dì Minh Soum là mẹ đẻ của con thật à?

    Tôi lẩm bẩm câu nói ấy trong cổ họng và đứng chết lặng người, vì bất ngờ được biết “dì Soum” người vú già trong gia đình đại tá Sokha vốn là mẹ đẻ của tôi, và là vợ của 1 viên cán bộ cao cấp Khờ-Me đỏ. Như thế, tôi xuất thân là con của 1 người đàn bà nghèo khổ, đã đem thân đi ở đợ cho gia đình cha mẹ của Lan-Thi. Hơn 2 năm trời phiêu dạt trong các trại cải tạo, tôi vốn mang nặng trong lòng 1 mặc cảm loạn-luân, lấy em gái làm vợ, một tội lỗi không thể nào tha thứ được. Nhưng bây giờ, bỗng nhiên mặc cảm tội lỗi ấy đã tan biến mất. Như thế, tôi và Lan-Thi không có chút liên hệ máu mủ gì. Tôi để ý quan sát Lan-Thi, cảm thấy dường như nàng cũng đã trút bỏ được cái mặc cảm nặng nề ấy trong lòng.
    Trong khi tôi còn đang suy nghĩ miên man về định mệnh éo le của đời tôi, thì viên Kamaphibal nói:
    - Chiều nay 2 con lên văn phòng ba nói chuyện. Ba sẽ kể hết đầu đuôi câu chuyện cho con hiểu. Bây giờ ba đã bị xúc động quá mạnh không còn đầu óc nào để nói thêm gì nữa.
    Nói xong, cha tôi gạt nước mắt quay đi.
  2. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    MỐI TÌNH TRẮC TRỞ CỦA ĐÔI TRAI GÁI NÔNG DÂN.
    Chiều hôm ấy, chúng tôi trở lên văn phòng ngồi nghe cha tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện thực của đời mình. Vẻ mặt ông thoáng hiện 1 nét vui, nhưng đôi mắt ông càng thêm đỏ và ướt sũng. Ông chậm rãi kể.
    - Chính mẹ con đã chọn cái tên “Chấn” khi đẻ con. (tiếng Căm-Bu-Chia có nghĩa: mặt trăng). Con sinh ra đời vào 1 đêm sáng trăng, tháng 2, năm 1952. Đêm ấy trăng sáng tỏ và rất đẹp. Mẹ con vốn là con gái cưng của 1 gia đình phú-nông. Mẹ con đã yêu ba rất tha thiết, nhưng vì ba chỉ là 1 nông dân nghèo xác xơ, lại thêm dốt nát, không biết chữ, nên ông bà ngoại con đã phản ứng kịch liệt. Trong hoàn cảnh đó, con không còn cách nào khác hơn là trốn bỏ gia đình đi theo tiếng gọi của con tim. Ba và mẹ con sống chúng với nhau rất đầm ấm cho đến ngày chiến tranh bùng nổ. Lúc ấy vào khoảng năm 1948, một nhóm kháng chiến Khờ-Me nổi lên dưới sự chỉ huy của Việt-Minh, thỉnh thoảng xâm nhập vào làng nơi bà và mẹ con cư ngụ, đưa ra những khẩu hiệu tuyên truyền như “giải phóng khỏi ách đế-quốc, tư-bản” và “tự-do”.v.v.... Lúc bấy giờ những chữ ấy đối với ba và má con chẳng có nghĩa lý gì, vì thực sự mọi người nông dân như ba và má con đã và đang được sống hoàn toàn tự do rồi. Nông dân Căm-Bu-Chia không muốn gì hơn được sống yên ổn trên mảnh đất phì nhiêu, êm đềm của họ. Nhưng tình hình đã thay đổi nhanh chóng. Khoảng năm 1949, bỗng một hôm bọn lính Tây và bọn thân-binh Khờ-Me mở cuộc hành quân bố ráp, truy lùng bọn kháng-chiến. Khi cuộc bố ráp vừa chấm dứt, đến tối, bọn kháng chiến trở lại đem ba và mẹ con ra chất vấn đủ điều về số lính bố ráp, về số lượng võ khí, về mục tiêu,.v.v... Ba má đâu có biết gì nhiều để mà khai cho họ. Thế là từ đó ba má cảm thấy mình giống như con cá nằm trên thớt. Người nông dân Căm-Bu-Chia ở nông thôn bị sống trong cảnh trên đe dưới búa. Bên nào cũng nghi ngờ và bên nào cũng có thể đem mình ra giết vô tội vạ. Một hôm cuộc đụng độ giữa 2 bên xảy ra. Ba má cùng nhiều người khác phải chạy trốn vô rừng. Khi tiếng súng đã im, ba má chờ đêm tối đến mới dám trở về thăm nhà, thì nhà đã bị đốt cháy tiêu. Từ năm 1949 cho đến năm 1952, khi đã sanh ra con rồi, ba má đã phải dựng nhà lại đến 5 lần cả thảy. Nhưng tình thế càng ngày càng thêm nguy ngập. Những gia đình nông dân có của thì bỏ ruộng đất lên tỉnh sinh nhai. Những người trai trẻ thì đi theo kháng chiến. Đến ngày 25 tháng 2, và ngày 5 tháng 3 năm 1952 những ngày này không bao giờ ba quên được, một lực lượng quân đội hùng hậu dưới sự chỉ huy của người Pháp từ Kompong Chàm kéo đến đánh nhau dữ dội với quân kháng chiến Khờ-Me dưới sự điều khiển của Việt-Minh. Trận này quân Kháng chiến và Việt-Minh bị giết rất nhiều.
    Trước khi rút lui, quân Pháp ra lịnh, đốt hết sạch nhà cửa và ruộng lúa, đồng thời cưỡng bách nông dân trong vùng phải di tản hết lên tỉnh để cho bọn Việt-Minh không còn nơi nương tựa. Nhà mình bị đốt cháy trong lúc mẹ con mới sanh con được có 8 ngày. Trong tình thế ấy, ba không còn cách nào bám víu vào mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún và đã đem lại sự sống cho ba và má con nữa, ba đành đem vợ con di cư lên tỉnh tìm cách sinh nhai... Thấm thoát bây giờ đã 20 năm rồi, thế mà ba cứ tưởng như mới xảy ra ngày hôm qua...
    Khi đi, má con vì mới sanh còn yếu đuối. Ba phải ẵm con trong lòng, nhưng lúc ấy ba cũng đã bị thương ở chân nên không đi nhanh được như mọi người. Thấy thế một tên lính đến giáng cho ba 1 báng súng vào lưng, nhưng chẳng may lại trợt vào đầu con, khiến máu chảy ra lênh láng. Lúc ấy ba cứ tưởng con sẽ phải chết vì vết thương ấy. Ba vội bồng con đến bệnh xá gần đó xin săn sóc. Bác sĩ nói vết thương không có gì nguy hiểm, chỉ sớt da đầu thôi. Vì thế mà con có cái sẹo đó.
  3. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [​IMG]

    Cái Avatar của tôi bị mất đâu rồi . Nhờ BQT set lại dùm cái hình này
  4. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    ĐI TÌM TỰ-DO NHƯNG TỰ-DO ƠI, MI Ở ĐÂU?
    Ngày 12 tháng 1 năm 1978 là ngày đau thương tang tóc nhất đời tôi, vì hôm nay chúng tôi đã nhận được tin chánh-thức thông-báo từ chánh-trị-bộ Angkar Leou rằng: người mẹ đẻ ra tôi Minh Soum và cả người mẹ nuôi là bà đại-tá Ouch Sakha đều đã chết từ lâu trong 1 nông trường cải tạo ở Rarai, thuộc tỉnh Kompong Thom.
    Như 2 đứa chúng tôi đã cùng nhau quyết định từ trước, ngay sau khi nhận được tin mẹ của chúng tôi đã chết, tôi và Lan-Thi chờ đến lúc tối trời lén bỏ trại trốn đi. Ba tôi hoàn toàn không hay biết gì về việc này. Chúng tôi nhắm hướng Bắc để đi qua Thái Lan. Đến tảng sáng chúng tôi đến thị xã Chhoeuteal Kong, nằm giáp ranh biên giới. Từ đây sợ bị tiết lộ, chúng tôi không dám đi theo đường mòn nữa, mà phải lội vào những vùng rừng rậm hoang vu, những nơi không canh gác nghiêm ngặt, nhưng lại đầy rẫy cạm bẫy nguy hiểm chết người như: mìn bẫy, hầm chông.v.v... Đến trưa chúng tôi đã đến Dangrek, chỉ còn cách thị xã địa đầu Bản-Dân của Thái-Lan chừng 8 cây số. Trước khi đặt chân vào đất Thái, tôi quay lại ném cây gậy bằng gỗ mun, di vật của Toum, trở về đất Căm-Bu-Chia.
    Chỉ giây lát sau, chúng tôi đã cảm thấy sắp được hít thở không khí tự do trong lành của trời đất và của nhân loại, mà từ hơn 3 năm qua chúng tôi đã bị mất hẳn. Nhưng chúng tôi đã lầm to, vì không biết rằng kể từ tháng 12 năm 1977, chính quyền Thái và Khờ-Me đỏ đã ký kết 1 thỏa-ước tạm, 1 loại “modus vivendi”, về những phần tử vượt biên.
    Ngay khi vừa đặt chân lên lãnh thổ Thái, những người mặc đồng phục đen như chúng tôi đều bị cảnh-sát địa phương bắt giữ, và lập tức bị điều tra để lập thủ-tục giao-hoàn về nguyên quán. Như thế, chặng cuối của con đường tìm tự-do của chúng tôi sẽ là một bản án tử-hình!
  5. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [TABLE]
    [TR]
    [TD="width: 85%"]Nhưng xã-hội Thái và các viên chức chánh quyền Thái vẫn dành 1 vài kẻ hở cho những người có tiền hoặc là những đàn bà con gái có nhan sắc mặn mà như trường hợp của Lan-Thi. Để tự cứu mạng sống của mình, đồng thời cũng để cứu mạng cho tôi, Lan-Thi đã phải chấp nhận hiến thân cho 1 viên chức cao cấp Thái. Nàng đã hiến dâng tấm thân ngà ngọc, yêu kiều, đang thời xuân sắc của nàng để đổi lấy quy chế “tị-nạn” cho tôi và cả cho nàng. Từ đó tôi và nàng phải chia tay nhau trong đau khổ, nghẹn ngào. Tôi bị đưa về trại tị-nạn ở Lumpuk Prasat đông đảo, lúc nhúc người, nằm ngồi la liệt ngay trên mặt đất ẩm ướt, không chiếu mền gì cả. Trong khi Lan-Thi được đưa lên 1 chiếc xe nhà binh chở về phía Srisaket.
    Một tháng sau, Lan-Thi vào trại tị-nạn thăm tôi. Nhưng tôi đã không thể nào nhận ra nàng được, vì nàng đã thay đổi quá nhiều, khác hẳn khi xưa, về cách phục sức và dáng điệu cùng cử chỉ. Nhìn tôi nàng nói:
    - Kể từ nay anh đừng bao giờ nghĩ đến em nữa, đừng trông mong gì nơi em nữa. Chúng ta cần phải hưởng thụ cuộc sống quý-giá mà chúng ta chỉ có được 1 lần thôi. Anh hãy quên dĩ-vãng đi!”
    Những lời nàng nói đã dày vò tâm não tôi rất nhiều. Nhưng khi tôi gặp nàng lần thứ nhì và cũng là lần cuối, thì tôi thấy nàng khóc và ngỏ ý không còn muốn kéo dài thêm cuộc sống nữa.
    Về phần tôi, sau khi đã trải qua bao nỗi đắng cay, chán chường, tôi chỉ còn 1 ước vọng duy nhất là được trở lại quê hương. Tôi thà chết trên quê hương đẫm máu của tôi hơn là phải kéo lê cái chết dần mòn trong không khí tự-do giả tạo này.
    Khi các bạn đang đọc những giòng chữ này có lẽ tôi đã trở về với quê mẹ ngàn đời mến yêu của tôi rồi!
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][TABLE]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 100%, colspan: 2"][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
  6. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Trên đây là toàn bộ tập hồi ký của Boun Sokha, đã mô tả khá chi tiết về cảnh sống của người dân dưới chế độ công xã của khomedo. Phần sau đây là các lời tố cáo của các cán bộ Khomedo đã bị chúng thanh trừng nội bộ như thế nào .


    [TABLE="width: 100%"]
    [TR]
    [TD="width: 85%"]
    SỰ THANH TOÁN NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN CAM-PU-CHIA ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM (TẬP KẾT)


    BOUDAREL(GEORGES)
    (Tập san Sưu tầm tài liệu Pháp 1979)

    Hai lời khai dưới đây đã được G.Bu-đa-ren ghi nhận vào tháng 2 năm 1978 tại tỉnh Tây Ninh. Hai người cán bộ cộng sản Khơ-me này tự nhận là những người "tập kết",(từ Việt Nam có nghĩa là tập hợp lại). Theo các cuộc tập hợp các lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Liên Hiệp Pháp, tại hai khu vực bên này và bên kia vĩ tuyến 17, họ đã được bí mật đưa ra miền Bắc Việt Nam vào năm 1954.

    Lời khai của Li-Yang-Duo
    Uỷ viên, Tỉnh uỷ Đảng Cộng Sản Kampot từ năm 1970 đến tháng 9 năm 1974


    Li-Yang-Duo kể ngay anh đã thoát khỏi chết được trong trường hợp nào.

    -Vào một buổi chiều tối sáu giờ có sáu người mang vũ khí đến nhà tôi, lúc ấy tôi ở Khoum-Loum-Liou thuộc quận Kompong Trai(Kampot). Tôi hỏi họ: Các anh muốn làm gì tôi đây?

    -Chúng tao nhận được lệnh tới bắt mày.

    -Bởi vì mày là một tên phản động, một tên xét lại, một tên thuộc lực lượng thứ ba và là một tên tay sai của Việt Nam. Trước khi độc lập phải thanh toán tất cả bọn này.

    Chúng đã đem tôi đi xa năm trăm thước ra khỏi làng, qua các ruộng muối và đưa tôi vào một khu rừng nhỏ. Một tên ở lại bìa rừng. Còn những tên khác lột quần áo tôi ra, dùng dây ni-lông trói tay tôi ra sau lưng. Chúng nói với tôi: "Đi tới chỗ đó mày không cần phải có quần áo". Ba tên dùng xẻng và cuốc để đào một cái hố. Chỉ có một tên canh giữ tôi. Trong lúc chờ đợi tôi đã gỡ được dây trói. Sau một lúc lâu bọn kia kêu dẫn tôi tới. Tôi giả vờ như mất một chiếc dép chúng vẫn còn cho tôi mang, tên canh gác tôi cúi xuống. Tôi lấy nắm bùn muối đã lượm được và ném vào mặt hắn rồi chạy tuột vào trong rừng quên luôn cả việc phải giựt súng của hắn. Tôi chạy được mấy thước thì hắn đã trấn tĩnh lại được và đã gọi đồng bọn. Chúng đã xả súng bắn. Tôi bò dưới đất: một viên đạn đã xuyên qua chân tôi.

    Anh đưa cho tôi xem vết sẹo rất rõ ở dưới bàn chân và ở cổ chân. Không thể truy lùng được trong đêm tối, nên bọn "đao phủ" đã buộc dân chúng phải bao vây khu rừng.

    Chúng nói với mọi người: "Nếu các người thấy nó, hãy lấy gậy đập vào đầu cho nó chết". Tới lúc gà gáy, tôi có cảm giác là ở một chỗ, dường như không có người canh gác. Có lẽ họ còn ngủ chăng? Tôi đã cố lách ra được khỏi khu rừng, tôi bò tới ruộng muối, theo một bờ lạch rồi bơi qua sông, tới một khu vực không có dân chúng. Sau một tuần lễ tôi đã sang được đất Việt Nam, chỉ ở cách đó có 3 cây số.

    -Trong tuần lễ ấy anh đã sống như thế nào?

    -Ăn củ và trái cây rừng. Tại Việt Nam, tôi đã được đón tiếp rất nồng hậu. Sau ba tháng bồi dưỡng tại bệnh viện Long Châu, tôi được tặng 5 ngàn đồng và 2 bộ quần áo. Ngày 25 tháng 10 năm 1977 tôi được cử về đây.
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
  7. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [TABLE="width: 100%"]
    [TR]
    [TD="width: 85%"]- Li- Yang Duo còn nói rõ là trước năm 1954, anh là bộ đội trong quân đội Khơ-me Ít-xa-rắc, thuộc đơn vị 126 Kompong Trach. Anh vào bộ đội năm 1953. Cha anh là Mekhum tức xã trưởng trong làng. Sau năm 1960 kế nhiệm cha anh, người anh của anh đã bị đập bể sọ năm 1974, vì là người đi theo Xi-ha-núc. Anh cũng có một người anh em nữa, hiện anh không có tin tức. Trong thời gian ở Bắc Việt Nam, Li- Yang- Đuo đi bộ đội từ năm 1954 đến 1961 tại Tịnh Điền (Thanh Hoá). Rồi sau khi học hết chương trình phổ thông ở Việt-Nam tại Phú Thọ, đến năm 1963, anh đã được cử đi Trung Quốctại Chongeing ( Tứ Xuyên ) miền Sichuân.

    - Anh đã học gì tại đó ?

    Anh trả lời vẻ chán ngấy :

    - Tư tưởng Mao Trạch Đông, chỉ có thế thôi .

    Anh nói tiếp năm 1970 khi xảy ra vụ đảo chính của Lon–Non, tôi làm việc tại ty văn hoá Hoà Bình. Chính là trong thời gian này người ta đã băt đầu chuẩn bj cho tôi trở về xứ. Tôi đã theo một khoá do Trung ương Đảng cộng sản Việt-Nam tổ chức tại Hoà Bình. Đảng Việt-Nam và đảng Campuchia đã quyết định đưa chúng tôi về nước. Cuộc hành trình theo đường mòn Hồ Chí Minh kéo dài 3 tháng. Khi trở về nước chúng tôi gặp những người lãnh đạo Ăng-ca, họ rất lạnh nhạt đối với chúng tôi, coi chúng tôi như bọn người cầu an và là những người cần phải giáo dục lại. Vào năm 1971 đó là quan điểm của Tamok, uỷ viên Trung ương, bí thư khu 281. Chúng tôi đã vấp phải những khó khăn. Các cán bộ coi chúng tôi là những thành phần nô lệ nước ngoài, nhất là Việt-Nam. Tôi cũng đxã gặp Chu Chet, một uỷ viên khác trong vùng. Cũng như Tamok, hắn đã tham gia chiến tranh chống Pháp nhưng cả hai đều không được đưa sang Việt-Nam vào năm 1954. Rồi lúc đầu họ bố trí tôi công tác tại vùng đông bắc, kế đến tỉnh Kampot.

    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
  8. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [TABLE]
    [TR]
    [TD="width: 85%"] - Lúc trở về nước các anh có bao nhiêu người ?

    - Hơn 100 người thuộc hầu hết các tỉnh CamPuChia

    - Những bạn anh bây giờ ra sao ?

    - Họ bị đập bể sọ chết. Họ đã loại chúng tôi qua 5 giai đoạn. Trước tiên họ cho chúng tôi giải ngũ, điều chúng tôi đi, rồi cho chúng tôi nghỉ công tác. Giai đoạn thứ hai khai diễn vào năm 1972. Người ta không giao cho chúng tôi những nhiệm vụ rõ rệt nữa. Rồi đến giai đoạn thứ ba, họ bắt đầu loại chúng tôi lần lần. Tới giai đoạn thứ tư, chúng tôi được kêu đi theo khoá học tập và trên đường đi đã bị thủ tiêu. Sang giai đoạn năm, người ta công khai hạ sát chúng tôi. Có một trường hợp, bảy cán bộ tập kết cả nam lẫn nữ đã bị bắn chết trước công chúng ngay tại nơi họ đang sinh sống. Chúng đến giữa đêm khuya, kêu họ ra và khi các đồng chí vừa ra thì chúng xả súng bắn. Vào đầu năm 1972, người ta cho chúng tôi nghỉ công tác, và điều chúng tôi đi nơi khác. Vào thời gian ấy không còn lính Việt Nam trong các làng Khơ-me nữa: bộ đội Việt Nam đã tập trung trong rừng. Người Việt Nam bị tách ra khỏi nhân dân Khơ-me. Và lúc đó bắt đầu thi hành một kế hoạch loại trừ những người Việt Nam bị coi như là đạo quân thứ năm. Vào cuối năm 1973, chúng đã giết trong đêm tất cả gia đình một thương gia, gồm cha mẹ và con gái. Đó là gia đình ông Tốt, có người em là bộ đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông ta sinh sống ở Srei Chea Srok thuộc Kompong Trach (Kampot). Vào lúc 8 giờ tối, chúng đến bắt tất cả mọi người mang đi và đập sọ chết hết. Hồi ấy, tôi còn phụ trách một công tác. Chính Pok Sieng, bí thư huyện uỷ Kompong Trach đã ra lệnh thủ tiêu gia đình này.

    - Vậy không có ai phản đối sao?

    - Thời kì ấy, những người "tập kết" không còn hoạt động gì trong đảng nữa. Khi họ trở về Cam-pu-chia, người ta (những người Khơ-me đỏ) đã buộc họ phải ký vào một tờ cam kết từ bỏ Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia (tức Pak Pra Chea Chou, tên gọi của Đảng cộng sản Cam-pu-chia, trước thời kì Pôn-pôt). Tuy nhiên, nhiều người cũng không có nhiệm vụ nào cả. Chẳng hạn tại khu 201 không có người nào có một chức vụ trong Đảng.

    - Hồi ấy có cố vấn Trung Quốc không?

    - Vào năm 1974, trong vùng tôi không có.

    - Tại sao anh biết được là các đồng chí của anh đã mất tích?

    - Bởi vì trong các buổi họp, người ta đã báo tin là họ mất tích; vả lại người ta nhắc đi nhắc lại hoài. Thường thường là mất tích khi được kêu đi hội họp. Trên đường đi thường là bị hạ sát bằng một phát súng lục. Đó là trường hợp của tất cả những người bị xếp vào loại gián điệp hoặc thành phần các lực lượng thứ ba.

    - Tại sao gọi là "lực lượng thứ ba"?

    - Lực lượng thứ nhất là những người theo Lon-non; lực lượng thứ hai là Khơ-me đỏ. Lực lượng thứ ba, theo ngôn ngữ của Ang-ca, bao gồm một mặt những người theo Xi-ha-núc, các viên chức cũ của chính phủ ông ta, và mặt khác, những người cộng sản đã tập kết ra miền Bắc Việt Nam.

    - Người ta có nói nhiều đến Xi-ha-núc không?

    - Cái đó tuỳ theo từng vùng. Cũng có khi người ta nói, cũng có khi người ta không dám nói. Tuy nhiên, ai tỏ ra là theo ông ta thì sẽ bị nghi ngờ và bị theo dõi.

    - Về vấn đề thanh toán, thì chính xác ra ai đã bị thanh toán và thanh toán theo một tỉ lệ là bao nhiêu? Đặc biệt là trong số những đồng chí "tập kết" của anh?

    - Phần lớn những đồng chí của tôi đã bị thủ tiêu, giết chết. Nhưng tôi không có những con số chính xác.

    - Còn đối với những người theo Xi-ha-núc thì ra sao?

    - Tất cả những trưởng ấp (Phum), xã (Khum), quận trưởng (Srok) và tỉnh trưởng. Cả những binh sĩ của Xi-ha-núc đã chạy theo kháng chiến nữa. Có không biết bao nhiêu là người vợ goá vì thường thường người ta chỉ giết đàn ông thôi.

    - Trong số những người tập kết anh biết rõ, anh ước tính số bị giết chết là bao nhiêu?

    - Tại khu 201, tất cả chúng tôi gồm hơn 100 người tập kết. Bây giờ chỉ còn có 6 người sống sót, 4 người có mặt tại Việt Nam, tại đây, 1 còn ở miền Tây và tôi.

    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][TABLE]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 100%, colspan: 2"][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
  9. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Lời khai của Tan Sareun
    Cựu Ít-xa-rắc, 53 tuổi



    Tôi sinh đẻ tại Phnom Penh, cây số 6 trên đường đi Prek Dam. Vào năm 1950 tôi tham gia phong trào Ít-xa-rắc tại Kompong Cham và phục vụ trong ngành tình báo quân đội. Năm 1974 cha mẹ tôi đều đã bị giết chết tại Cam-pu-chia. Mãi tới năm 1976 tôi mới lấy vợ.
    Năm 1954, khi được đưa ra tập kết ở miền Bắc Việt Nam, người Việt Nam thường gọi đùa tôi là 'cán bộ Đa-dê-năng" (một cán bộ đa năng cũng giống thuốc Đa-dê-năng có thể trị bá chứng vậy), tức là một loại cán bộ cơ sở có thể điều đi bất cứ chỗ nào, và giao cho bất cứ
    nhiệm vụ gì tuỳ theo nhu cầu của lúc đó.

    Thế nên tại miền Bắc Việt Nam, lúc đầu tôi làm công nhân tại nhà máy điện mới được xây cất và phải đưa vào sản xuất. Vào lúc ở gần đó đê Mai Lâm bị vỡ, tôi đã tham gia đắp đê lấp chỗ vỡ. Năm 1957, tôi được đưa đi học tập chính trị tại Phú Thọ, rồi năm 1958 được đưa đi Vĩnh Phúc để học phổ thông bổ túc. Tôi không đi Trung Quốc. Nhưng tôi đã làm việc tại miền thượng du như làm công nhân tại mỏ thiếc Tĩnh Túc. Vào năm 1962, khi tôi còn đang làm việc tại đấy, người ta đã đưa tôi đi học trường bổ túc dành cho công nhân và nông dân, mở tại Đông Triều. Sau khi học hết lớp 10, tôi được điều vào Nghệ An với tư cách là bí thư trường đào tạo công nhân chuyên nghiệp. Năm 1966-1967, người ta đưa tôi sang Ban đối ngoại của Đảng do đồng chí Xuân Thuỷ phụ trách. Tôi ở đấy cho đến năm 1970. Khi xảy ra vụ Lon-non làm đảo chính, người ta quyết định đưa tôi về nước để tham gia chiến đấu. Thế là tôi đã làm xong nhiệm vụ "cán bộ Đa-dê-năng" tại Việt Nam để lại tiếp tục một nhiệm vụ mới tại chính nước tôi, tại đây còn đủ mọi việc phải làm.

    Tôi là trong số những người đã tổ chức cho những đoàn xe tiến vào Nam. Rời Bắc Việt Nam vào Cam-pu-chia, tổng cộng có khoảng trên 1000 người Khơ-me tập kết ra Bắc vào năm 1954. Chúng tôi đi từng đợt khoảng 100 người và theo đường mòn Hồ Chí Minh. Nhóm của tôi gồm khoảng 120 người, đi đường nhiều người ngã bệnh và lúc tới nơi chúng tôi chỉ còn 63 hay 68 người, tôi không nhớ đích xác con số. Một số đã tới sau. Bây giờ tôi tự hỏi không biết bao nhiêu người trong số chúng tôi hiện nay còn sống.

    Sau khi trỏ về nước được ba tháng, chúng tôi được phân tán đi hầu hết khắp mọi nơi trên đất nước Cam-pu-chia. Tôi đã làm bí thư huyện uỷ, rồi uỷ viên đảng bộ tại Kompong Cham từ 1970 đến cuối năm 1973. Lúc ấy tôi nhận thấy chúng tôi không còn được Đảng tín nhiệm nữa. Tôi mất chức và được đưa sang hành chánh, phụ trách Ty y tế trong tỉnh.

    Lúc ban đầu, tôi rất sung sướng được trở về nước. Sau khi quyết định của Đảng được chấp thuận và phổ biến vào hồi ấy, tức năm 1970, tôi đã làm việc hết sức mình để móc nối, tiếp xúc, xây dựng cơ sở đủ loại. Tôi đã xây dựng được những tổ, những cơ sở cho quân đội, cho Đảng, cho các phong trào quần chúng. Tôi đào tạo các cán bộ và phổ biến đường lối. Vào cuối năm 1973, càng ngày tôi càng cảm thấy có nhiều dấu hiệu nghi kỵ tại vùng hoạt động của tôi. Người ta không muốn tôi tham dự những buỏi hội họp ở Trung ương nữa. Người ta đã giao cho tôi nmột công tác không có một trách nhiệm chính trị nào, rồi kế đó, tôi lại chẳng được giao cho công tác nào rõ rệt cả.

    Kể từ lúc đó, người ta đã thúc đẩy các cán bộ cấp cơ sở phê bình tôi. Người ta lên án tôi là người Cam-pu-chia mà lại đội nón lá như là người Việt Nam. Người ta nói rằng, chịu để đưa ra miền Bắc là tôi đã chạy theo cá nhân chủ nghĩa và có tinh thần cầu an. Nói đến tôi, người ta cứ coi tôi như là một kẻ mưu mô xảo quyệt, mới giành được địa vị. Một vài người bạn của tôi trước đây có ở miền Bắc Việt Nam đã bị ám sát.

    Đó là trường hợp của Rotana Kéo, trước kia có học ở Đông Triều và đã làm tiểu đoàn trưởng ở Kompong Thom. Trong nội bộ Ang-ca, anh ta đã chỉ trích các cán bộ khác là đã không chăm sóc đến đời sống của các chiến sĩ. Anh cũng đã chỉ trích một số cán bộ là đã theo đuổi một chính sách bè phái, đã đề cao vợ con mình thay vì tiến cử những người có thành tích tốt trong đơn vị. Rotana Kéo được triệu tập đi họp và đã bị ám sát ở giữa đuờng.
  10. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Trong nước thì tụi Khomedo tàn sát người dân , thanh trừng các cán bộ từng đi học ở Việt Nam. Ở biên giới thì chúng xua quân qua giết hại đồng bào ta .

    Lời kể của một số nhân chứng người Việt Nam về tội ác của Khomedo

    Trần Đình Hải :
    Gia đình tôi là một trong rất nhiều nhân chứng về tội ác của quân Pôn Pốt ở xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào năm 1977. Mỗi khi đọc sách sử của Sư đòan 341, Sư đòan 5, hay Quân đòan 4 đến đọan viết về tội ác của quân Pôn Pốt đối với đồng bào ta trong đêm ngày 24-9-1977 ở xã Tân Lập là tim tôi lại thêm một lần đau đớn.
    Gia đình tôi giống như hầu hết các gia đình dân cư ở xã Tân Lập vào năm 1977 có nguồn gốc là dân Việt kiều Campuchia, phần lớn trong số đó là công nhân làm việc cho Tập đòan IECC (tôi không chắc là chính xác không, nhưng má của tôi đọc là như vậy), là doanh nghiệp của Pháp đầu tư khai thác đồn điền cao su ở vùng Snoul-Chúp, họ vốn là dân được mộ phu cao su từ vùng đồng bằng bắc bộ Việt Nam từ những năm đầu 1940. Họ vốn đã từng bị chế độ Lon-Nol truy sát, giết chóc vào năm 1970, thì một lần nữa lại bị quân Pôn Pốt giết chóc vào đêm 24-9-1977.
    Câu chuyện của gia đình tôi với tư cách là nhân chứng về tội ác của quân Pôn Pốt là như thế này: tôi sinh vào ngày 25-8-1977, lúc này gia đình sống ở thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (khu tập thể của công chức ở Văn phòng UBND tỉnh Tây Ninh). Khi tôi được 1 tháng tuổi tức vào sáng ngày 24-9-1977 má bế tôi về thăm ông bà ngọai ở xã Tân Lập, huyện Tân Biên, cách cửa khẩu Xa-mát Việt Nam-Campuchia khỏang 3-4 km. Khỏang 5 giờ chiều ngày hôm đó, người cậu của tôi (Ngô Văn Thành) công tác ở lược lượng công an vũ trang tỉnh (nay là Bộ đội biên phòng) có ghé nhà ông ngọai tôi rồi hỏi má tôi :"sẵn có xe của đơn vị em chở chị về thị xã luôn nhé?", khi đó người dựơng (Nguyễn Thanh Hóa, cũng là lính của công an vũ trang) mới xen vào: "lâu rồi chị mới lên chơi, ở đến mai rồi em đón xe cho chị về". Má tôi đồng ý sáng mai mới đón xe về. Vào khỏang 7-8 giờ tối, người dì em của má (Ngô Thị Sen) đi họp ở đội Thanh niên xung phong hớt hãi chạy vào nhà ông ngọai: "ba ơi! Mên (tức là Miên, hay Khmer) nó đang giết người đốt nhà ở đầu xóm đó ba! chạy mau đi ba!". Má tôi kể mọi người trong nhà không tin, nghe yên tĩnh lắm mà, dì Sen nói là Mên nó đập đầu không à, có bắn súng đâu mà nghe được. Vậy là mọi người trong nhà (ông bà, dì Sen, dượng Hóa, má tôi và bế tôi nữa) rối rít tháo chạy, má bế tôi ngồi trên yên sau xe đạp để ông dượng đẩy đi, chúng tôi cùng một số dân trong xã thóat chết nhanh chân tháo chạy lên hướng đông đến ngã tư Đồng-Pan (nay là thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) rồi chạy về hướng thị xã thêm 4 km dừng chân ở một nơi gọi là Tha La, trú ở những căn nhà do Thanh niên xung phong làm kinh tế bỏ lại, họ đang cùng các đơn vị bộ đội tiến ngược về hướng biên giới .... ông bà tôi, dì dượng, gia đình cậu Thành, cũng nhưng hầu hết người dân xã Tân Lập gốc Việt kiều chạy nạn đã về định cư ở Tha La cho tới ngày nay (năm 2008), hiện nay tên gọi chính thức là xã Tân Phú, huyện Tân Châu, Tây Ninh.
    Gia đình bên ngọai tôi có đến gần ba chục người của 3 thế hệ; một nửa số đó sinh ra ở Snoul-Chúp, Kampongcham; còn lại sinh ra ở ViệtNam, trải qua đủ lọai giặc giã trong khỏang 20 năm: diệt chủng LonNol, quân ngụy Sài Gòn xâm nhập vào Campuchia, bom B-52, trực thăng vũ trang truy đuổi, biệt kích Mỹ, biệt kích Sài Gòn, cuối cùng là diệt chủng Pôn Pốt, tham gia chiến đấu ở các đơn vị khác nhau vậy mà trong không sứt mẻ một ai cả! Tôi cũng có được cái may mắn đó trong đêm 24-9-1977!. Một người hàng xóm với nhà ông ngọai mà tôi gọi là chú Thành không có cái may mắn đó, chạy về tới Tha La với 1 đứa con gái bế trên tay là tất cả những gì chú Thành còn lại; trong đêm 24-9 đó chú Thành trốn trong bụi mía để chứng kiến cảnh lính Pôn Pốt lần lượt gọi vợ chú, các con bé nhỏ của chú dưới hầm lên và chúng giết từng người một ngay trên miệng hầm ngay trước mặt của chú; gọi mãi không thấy ai lên nữa nên chúng bỏ đi, chú Thành chạy đến miệng hầm gọi tên đứa con gái út còn sót lại đang khiếp hãi đến câm lặng trước những gì nó chứng kiến vậy là 2 cha con sống sót chạy theo đòan người về đến Tha La, sau này chú Thành làm nghề hàn xì gió đá, lập gia đình mới sinh thêm 3 đứa con, đến đầu năm 1990 trúng vé số về sống ở Hóc Môn kinh doanh nghề xe tải vận chuyển đất đá gì đó. Là một nạn nhân may mắn thóat chết vậy hôm nay tôi phải viết ra để lịch sử được tôn trọng; tội ác của Pôn Pốt đối với bà con người Việt ta nơi biên giới Tân Lập, Tân Biên, Tây Ninh được biết đến; sự hy sinh của bộ đội Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ biên giới giai đọan này được trân trọng; những kẻ nói láo về lịch sử phải ngậm miệng.

    Cuối cùng, tôi xin gởi đến những ai có quan tâm đến lịch sử chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam nước ta những năm cuối 1970 một số thông tin mà tôi góp nhặt được đó là: sau này khi có cơ hội gặp một số vị lãnh đạo tỉnh Tây Ninh (ông Hai Mai, Phó CT UBND tỉnh, khối văn xã; ông Đặng Văn Thượng, chính ủy Sư 9 thời kì 1966-67, CT UBND tỉnh TN 1980-1985, Bí thư tỉnh ủy TN 1985-1990, Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ 1990-2000), tôi luôn đặt câu hỏi rằng tại sao dù biệt rõ ràng rằng bấy giờ tập đòan Pôn Pốt-IengSari đã đang tiến hành diệt chủng dân Khmer trong nước, kêu gào chiến tranh xâm lược Việt Nam, liên tục tiến hành lấn chiến, nổ súng vào thường dân Việt Nam trên đất Việt Nam, vậy thì tại sao các vị lãnh đạo lại không bố trí một lực lượng quân sự đủ mạnh trên tuyến biên giới để ngăn chặn ngay trong trứng nước các họat động xâm nhập, cướp và giết của quân Pôn Pốt đối với thường dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam. Câu trả lời đều giống nhau là: chúng ta không ngờ là Pôn Pốt sẽ dám làm như vậy!
    Nghe vậy làm tôi cảm thấy ấm ức lắm, tới tận bây giờ. Xin các vị lãnh đạo đừng bao giờ lãnh đạo và bảo vệ người dân của mình bằng 2 chữ: "không ngờ" nữa, nếu không sẽ còn nhiều người dân phải chết oan uổng lắm.

    Trước ngày 24-9 này người dân đã báo cáo cho chính quyền xã 1 số dấu hiệu xâm nhập, cướp, giết của quân Pôn Pốt, chính quyền xã báo cáo chính quyền cấp trên thì được phản hồi cho người dân là: nếu quân Pôn Pốt vào thì bà con cứ yên tâm xuống trốn dưới hầm (vốn đã có từ thời đánh Mỹ), chừng 15 phút sau là bộ đội lên liền. Chính cái khuyến nghị này mà dân ta mới bị giết chết nhiều vì khi quân Pốt nó vào thì chúng cứ việc vào từng hầm của dân mà kêu từng người lên để giết. Thật chẳng hiểu ra làm sao cái biện pháp thất sách này nữa.



  11. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [​IMG]

    Bản đồ tỉnh Tây Ninh


    [​IMG]

    Cửa khẩu Mộc Bài - Tây Ninh - Bên kia là tỉnh SvayRieng - CamBot ( năm 2010 )
  12. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Chứng tích của tội ác tại làng Ba Chúc

    [​IMG]

    Khu nhà mồ ba Chúc

    Ghi chép: UÔNG THÁI BIỂU


    23 năm đã trôi qua nhưng chưa một giây phút nào những người dân Ba Chúc nguôi ngoai cái cảm giác kinh hoàng của 11 ngày đêm tang thương của năm 1978. Bia đá của lòng căm thù đã được những người còn sống dựng lên, những lớp sọ người chất chồng lên nhau như nỗi đau chất lên nỗi đau thấu tới trời xanh. Nước mắt mãi mãi chảy ngược về quá khứ. Chưa có vụ thảm sát nào, chưa có tội ác nào kinh hoàng và rùng rợn như thế!...

    3.157 NGƯỜI DÂN VÔ TỘI BỊ SÁT HẠI

    Nằm dưới chân dãy Thất Sơn hùng vĩ, Ba Chúc là một xã thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Cách biên giới Việt Nam - Campuchia 7 km đường chim bay, vùng đất này là cửa ngõ mở xuống đồng bằng miền Tây Nam Bộ. Về Ba Chúc hôm nay, dưới những rặng dừa tỏa bóng bình yên bên những cánh đồng lúa ngậm sữa, không ai ngờ tới hơn 20 năm trước mảnh đất này đã phải từng gánh chịu một nỗi tang thương, đau đớn đến thế! Cùng với những hồi ức của người dân Ba Chúc, chúng tôi đi ngược thời gian...

    Ngày 30/4/1977, bọn diệt chủng Pôn Pốt vô cớ xua quân tấn công vào 8 tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, trong đó có An Giang mà xã Ba Chúc là một điểm trọng yếu trong hướng tấn công của chúng. Vùng đất nhỏ bé này đã phải chịu đựng 30 lần tấn công của chúng. Ðỉnh cao của tội ác là vụ thảm sát 3.157 người dân vô tội, từ ngày 18/4 đến 30/4/1978.

    Sáng 18/4, sau khi chọc thủng phòng tuyến của du kích xã, bọn Pôn Pốt xua quân vào Ba Chúc. Xã bị dìm trong biển lửa và máu. Những cảnh tượng giết người hàng loạt dã man hơn cả thời trung cổ: Bắn người tập thể, dùng búa đập đầu, cắt cổ; với trẻ em thì chúng xé làm đôi hoặc nắm hai chân đập đầu vào gốc cây, vách tường, bờ đất hay tung lên và xóc lưỡi lê vào cơ thể; với phụ nữ thì bọn dã thú hãm hiếp, dùng dao xẻo vú, thọc tầm vông, cán búa hoặc nhét đất đá vào chỗ kín cho đến chết. Những người dân Ba Chúc từng chứng kiến đã rùng mình hồi tưởng và cho đến bây giờ họ vẫn thảng thốt ngạc nhiên tại sao có những kẻ mang khuôn mặt con người mà độc ác, dã man đến như vậy!...

    Cùng với một người bạn sinh ra ở Ba Chúc, chúng tôi đến thăm những địa danh ghi lại tội ác của bọn diệt chủng. Ðã hơn 20 năm mà tiếng mõ cầu kinh của chùa Tam Bửu vẫn rền rĩ ngân thảm thương như tiếng vọng của những oan hồn. Những ngày cuối tháng 3/1978, khi Pôn Pốt lấn qua biên giới, nhân dân thường chạy vào chùa trú ẩn vì cứ ngỡ rằng chúng sẽ không giết người trước Ðức Phật từ bi. Ai ngờ rằng, ngày 17/4, loạt pháo đầu tiên chúng bắn trúng hậu liên Tam Bửu tự. 40 người chết không toàn thây, 20 người bị thương, máu loang đỏ nền chùa, tiếng kêu la cất lên thảm thiết. Sáng hôm sau, giặc tràn vào chùa Tam Bửu và bắt hơn 800 người đang ẩn nấp nơi đây và xua họ đi thảm sát tập thể ở cánh đồng Cầu Sắt và giồng Ông Tướng. Ðối diện với chùa Tam Bửu là chùa Phi Lai. Ba giờ chiều hôm đó giặc tràn vào đây và xả súng bắn chết tại chỗ 80 người; 100 người khác kinh sợ bỏ chạy cũng bị chúng dùng báng súng và khúc cây đánh chết; 40 người khác nấp dưới bàn thờ Phật cũng bị lựu đạn tung vào chỉ sống sót 1 người. Những hang đá trên núi Tượng (Kỳ Lân Sơn trong dãy Thất Sơn) đã trở thành những mồ chôn người tập thể. Trong hang Ba Lê, 50 người trong một dòng họ không còn sót một ai và bên cạnh là giồng Ông Tướng đã vùi thây 100 sinh linh vô tội khác. Hang Cây Da có 17 người vào trốn, chúng xả súng giết ngay 14 người, hiếp dâm chị Chuột rồi dùng cây đâm vào cửa mình cho đến chết, hai người liều mình chạy thoát là anh Phan Văn Ba và người con trai 19 tuổi của mình. Bạn tôi kể lại, sau ngày bọn Pôn Pốt đã bị đẩy về bên kia biên giới, nhân dân Ba Chúc đã gom góp xương tàn của những người xấu số chất đầy cả... mấy chiếc xe bò!...


    NHỮNG NHÂN CHỨNG SỐNG

    Trước mặt chúng tôi là một ông già tiều tụy, những nét đau khổ khắc sâu trên gương mặt ông, đó là Trần Văn Tỏ. Người cha bất hạnh ấy quặn thắt ruột gan mà kể lại cho chúng tôi câu chuyện thương tâm. Ðây là nỗi ám ảnh chưa một giây phút nào thoát ra khỏi con tim và khối óc ông, ông sống mà cứ nghĩ như mình đã chết. Ông Tỏ kể:

    Tại hang Ðồ Ðá Dựng nằm trong lòng núi Tượng có 72 người trốn, trong đó có 4 cháu nhỏ. Do ở hang lâu ngày thiếu ăn, khát nước và bệnh tật, trẻ la khóc suốt ngày. Ðể đảm bảo bí mật cứu lấy số đông, mọi người phải đau lòng nghĩ đến chuyện bức tử các cháu bé nhưng không ai dám nỡ lòng. Ðến ngày 29/4, một tên nữ Khơme Ðỏ đi do thám và phát hiện tiếng trẻ khóc, thị la lên "thận or" (có người) và chạy đi báo thượng cấp. Trước nguy cơ tất cả bị tàn sát, mọi người quyết định phải tự tay giết 4 cháu bé. Ðứa con trai lên 5 của anh Trần Văn Tỏ biết mình sắp phải chết đã thảng thốt van xin: "Ba ơi! Ðừng giết con!". Anh Tỏ đã cố nén đau thương bóp mũi đứa con trai thương yêu của mình cho đến chết. Rồi tiếp đó là ông Hai Khế, ông Tư Ðức đã lần lượt tự tay giết ba đứa cháu nội của mình. Ba tiếng đồng hồ sau, bộ đội ta tấn công vào, những người dân trong hang Ðồ Ðá Dựng ôm 4 đứa trẻ vẫn còn hơi nóng mà đứt từng khúc ruột...

    Bà Hà Thị Nga cũng là một nạn nhân còn sống sót sau vụ thảm sát. Ngôi nhà trơ trọi của bà cũng hoang lạnh đến rợn người nằm sát bên Nhà mồ Ba Chúc. Khi chúng tôi vào nhà, bà thắp nhang xá bốn phương tám hướng và cắm lên vô số bát nhang. Trên gương mặt như vô hồn của người phụ nữ chịu quá nhiều đau thương chợt đanh lại và ép ra những giọt nước mắt khi phải hồi ức về những ngày bi thảm. Bà sinh năm 1939, lúc ấy 39 tuổi. Cả dòng họ trên 100 người của bà đã bị bọn Pôn Pốt giết hại; riêng gia đình bà đã vĩnh viễn mất đi 37 người, từ cha mẹ, anh chị, chồng và 6 đứa con thân yêu. Bà đã tận mắt chứng kiến kẻ thù giết hại những đứa con của mình. Ðứa gái út bị chúng đập đầu ba lần không chết vẫn ngẩng đầu kêu "Mẹ ơi!" đau đến xé lòng. Bà đã ngất xỉu đi và gục lẫn vào đống xác người cho nên thoát chết. Còn chị Nguyễn Thị Ngọc Sương năm ấy mới 11 tuổi - cha mẹ và tất cả anh chị em đều bị sát hại. Sương kể trong nước mắt: Chiều 18/4, giặc tràn vào chùa Tam Bửu và lùa bà con đi tàn sát tập thể, Sương chạy theo cha. Tại cánh đồng Cầu Sắt - Vĩnh Thông, cha chị cầm tay con mà dặn: "Cha còn 7 đồng bạc, con cầm lấy". Giặc bắn cha chị, xác nằm chung với hàng trăm người khác. Chị cũng bị bắn vào đầu và ngực nhưng may mắn không chết. Ban ngày Sương đi lượm xoài ăn, tối về nằm bên xác cha. Qua 11 ngày đêm, các vết thương trên người chị nhiễm trùng thối rữa ra. Sau thảm họa, chính quyền địa phương đã đưa chị đi bệnh viện điều trị ba tháng sau mới lành. Ông Nguyễn Văn Kỉnh là một trong 300 người bị bọn chúng dẫn đi tàn sát ở cánh đồng Vĩnh Thông. Ông kể, chúng chia từng tốp 20-30 người rồi đồng loạt nã đạn, đến tốp ông Kinh, khi súng nổ ông hoảng sợ chết ngất. Sáu xác người khác phủ lên người ông. Khi tỉnh lại ông bàng hoàng nhìn cảnh tượng xung quanh và muốn chết thật đi khi nhìn thấy đứa cháu ngoại 5 tháng tuổi của mình đang day vú mẹ trong khi người con gái của ông tắt thở tự lâu rồi...
  13. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Tội ác của khomedo qua lời kể của các Cựu chiến binh chiến đấu ở cam pu chia trên các trang mạng

    Tường thuật của nhà báo ĐINH PHONG

    Chúng tôi: nhân chứng Tuol Sleng - Kỳ 2: “Lò sát sinh” Tuol Sleng


    TT - Ngày 7-1-1979, khi được tin bộ đội tình nguyện VN đã vào Phnom Penh, anh Phạm Khắc đến gặp Bộ chỉ huy tối cao Mặt trận Campuchia xin cho phép anh và tôi - những người làm phim của Đài truyền hình TP.HCM - vào Phnom Penh. Những ngày đầu vào thủ đô Phnom Penh chúng tôi rất ngạc nhiên: thủ đô của một nước mà vắng lặng không một bóng người, không xe cộ, không điện.


    >> Kỳ 1: Những thước phim bằng chứng
    Chúng tôi ở trong một ngôi nhà gỗ, luôn ăn cơm tập thể, đi ngủ sớm vì không có điện. Ban ngày cả nhóm làm phim chia nhau đi khắp thành phố và các vùng phụ cận quay phim các hố chôn người, các “công xã” tan hoang.
    Khủng khiếp
    Sáng 11-1-1979, anh Tư Sen - trợ lý địch vận của Quân đoàn 4 - gọi tôi đến nói: “Anh em trinh sát Sư đoàn 7 phát hiện một trường học có mùi hôi thối và tiếng trẻ con khóc. Ta đến đó ngay”. Tôi tập hợp anh em đem theo máy móc, phát mỗi người một hộp dầu cù là, một chiếc khăn tay. Đến nơi, các trinh sát cho biết chưa ai vào trong sân. Trước cửa là dòng chữ Khơme và tiếng Anh, tiếng Pháp: Trường Tuol Sleng. Tôi yêu cầu anh em lùi lại sau và đề nghị trinh sát rà bom mìn trước khi mở cửa. Chúng tôi cầm máy quay, máy ảnh, sẵn sàng và lấy khăn bịt mũi bôi dầu.
    Cửa mở. Tôi dẫn anh em lao về phía có tiếng trẻ con. Trong một căn bếp chật hẹp, giữa đống quần áo cũ là bốn đứa trẻ từ 5-9 tuổi, trên người không có mảnh áo quần, cọ quậy rất yếu như đám chuột con thoi thóp. Các bé bị muỗi đốt, toàn thân tím bầm và đói lả. Gần đó là những chiếc xoong trống rỗng. Một em bé chừng 2-3 tuổi bị muỗi đốt đầy mình đã chết lạnh ngắt, xác em nằm bên cạnh các luống rau đã trụi lá. Nhà bếp không còn gì ăn. Trên gác là những bó dây nịt của bộ đội VN đã bị lính Pol Pot giết. Chúng tôi gọi anh em bộ đội VN và Campuchia nhanh chóng chuyển các cháu đến bệnh viện quân đội VN.
    Theo hướng có mùi hôi thối bốc ra, chúng tôi ập vào những căn phòng mùi nồng nặc. Một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp: những lớp học đã được cải tạo thành phòng giam. Mỗi phòng có một chiếc giường sắt, trên giường là xác một hoặc hai người đã bị giết, chân tay còn bị xiềng vào giường, trong đó có một số phụ nữ. Hầu hết thi thể đều đã trương thối, dòi bọ từ các xác chết tràn khắp nền nhà, nước vàng cũng chảy lênh láng. Bên cạnh những xác chết là những dụng cụ tra tấn và giết người như búa, xẻng quân dụng, gậy gộc.
    Ở góc trái, trên một bàn nhỏ (chắc là bàn tên chỉ huy) còn vương vãi giấy tờ và một radio nhỏ. Từ dãy nhà nơi hàng chục phòng có xác chết, chúng tôi chạy sang dãy lớn bên tay phải. Đây cũng là những phòng học đã được cải tạo thành phòng giam: cửa phòng có khóa sắt, trong phòng có xích sắt lớn và gậy gộc để tra tấn. Trên tầng một, các phòng học cũng đều cải tạo thành phòng giam.
    Trước cửa các phòng học đều có một lớp rào sắt. Từ ngoài cổng nhìn vào ai cũng tưởng đây là một trường học với sân chơi, cây cối. Mấy ngày sau, anh em bộ đội phát hiện sân trường phát mùi hôi thối. Khi đào lên đó là một hố chôn các tù nhân đã bị giết hại, thi thể có người đầu không dính thân hoặc bụng bị mổ để lôi ruột gan.
    Từ các trại giam, chúng tôi rẽ sang trái - khu vực giữa trại giam và nhà bếp. Đây là phòng chụp hình tù nhân và xưởng chế tạo tượng Pol Pot. Trong một căn phòng trang bị các loại máy ảnh tối tân (loại máy ảnh cỡ 4x4cm), dưới đất vương vãi những tấm hình tù nhân, sắp xếp theo từng khuôn mặt cơ thể không định.
    Những người bị bắt vào đây đều được chụp hình: một tấm chụp chính giữa, một tấm bên trái, một tấm bên phải. Sau đó là hình đã bị chặt đầu (đầu và mình kê gần nhau) hoặc hình bị mổ bụng. Trong số hàng ngàn bức ảnh người Campuchia, có không ít người VN, bộ đội VN đã bị chúng bắt và giết hại. Bên cạnh phòng chụp ảnh là xưởng sản xuất tượng Pol Pot bằng thạch cao, bằng đồng.
    Xưởng được trang bị máy đúc của nước ngoài. Không rõ các bức tượng này được cung cấp cho những nơi nào, nhưng một số đã đóng thùng. Khi quay phim, chúng tôi ráng chịu đựng mùi hôi thối nồng nặc để ghi hình. Cho tới quá trưa, khi ra đến cổng nhìn trở lại ngôi trường đã trở thành nhà tù và nơi Pol Pot giết hại những người chống đối, chúng tôi giật mình bàng hoàng.
    Chúng tôi nhìn nhau như muốn hỏi: đây có phải là nơi giết người thời trung cổ? Cách đánh đập khảo tra và giết người bằng gậy gộc, cuốc xẻng; người bị giết vẫn còn bị còng tay xích chân trong cùm hay trên giường sắt. Ai đó đã biến những người Campuchia tự xưng là Khơme Đỏ trở thành lực lượng diệt chủng, giết người man rợ như thế này?
    [TABLE="class: tLegend, align: center"]
    [TR]
    [TD][​IMG]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]Tội ác ở Tuol Sleng: các tù nhân bị mổ bụng (ảnh do cai ngục Tuol Sleng chụp còn để lại trong nhà tù)
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]



    Nơi nào cũng là Tuol Sleng
    Hôm sau, anh em bộ đội dẫn chúng tôi về các vùng thôn quê, đến các “công xã” - thực chất là những trang trại tập trung. Những người dân Campuchia kể lại người dân thành phố, những người làm trong quân đội, chính quyền Lon Nol, các tri thức, thương gia, bà con Việt kiều, cán bộ tập kết… đều bị đuổi ra khỏi Phnom Penh và lùa về các trại tập trung, ai cưỡng lại đều bị giết ngay.
    Còn người thân của họ phải lao động nặng nhọc trong các đội sản xuất. Chúng bắt buộc dân sống và lao động theo kiểu “công xã”: ăn chung, ngủ chung, làm chung. Sợ dân trốn, chúng chỉ cho ăn cháo để không đủ sức đi xa. Chúng cấm không ai được ăn riêng, ăn thêm dù là rau dại, thậm chí một trái ớt. Chúng gom các gia đình cách mạng đã từng tham gia chống Pháp, chống Mỹ tàn sát hàng loạt.
    Bộ đội tình nguyện VN bắt được một thành viên huyện ủy của Pol Pot tên Sieu Sammon. Người dân tố cáo y đã giết hại hàng ngàn người. Trước ống kính của chúng tôi, Sieu nói là “chỉ” giết vài trăm người! Y kể lại việc giết hàng ngàn người một cách bình thản như không phải là tội ác: “Chúng tôi mời các gia đình cách mạng đến ăn cơm. Thế rồi khi họ đang uống nước nói chuyện thì mấy người cầm gậy sắt nhào vô đập đến chết tất cả. Sau đó đào hố chôn tập thể”. Sieu còn kể: với sự chỉ huy của y, lính Pol Pot đã đem trẻ em ba bốn tuổi đến một ao nước, nắm chân từng em đập vào gốc cây và ném xuống ao rồi lấp đất lên. Các tổ quay phim của chúng tôi đã ghi hình được hàng chục hố chôn người tập thể như vậy ở khắp các tỉnh.
    Cô giáo Moli - một người trốn thoát trại tập trung chạy sang VN, khi trở lại Phnom Penh - kể rằng chúng bắt thanh niên nam nữ xếp hàng đôi rồi thông báo người đứng bên cạnh đã trở thành vợ chồng với nhau. Rồi chúng cho từng cặp vào ngăn “buồng hạnh phúc”, đêm đó các cặp phải sống như vợ chồng.
    Chúng cho lính rình bên ngoài, nếu ai chống lại thì sáng sẽ bị đập chết. Cô giáo Moli sau đó gặp một sinh viên, họ bàn nhau tìm cách che mặt bọn “ăng-ca” rồi trốn khỏi “công xã”. Trên các con đường trở về quê, bên cầu Monivong, ven sông Mekong, trên các đường phố…, bất cứ đâu các nhà báo chúng tôi gặp người dân Campuchia đều nghe họ vừa khóc vừa kể lại những ngày tháng sống tồi tệ trong các “công xã”.
    Những ngày quay phim sau đó, trong chúng tôi là những nỗi kinh hoàng khi thấy ở khắp Campuchia, nơi nào cũng có các loại nhà tù như Tuol Sleng bởi ở đâu cũng có nơi giam cầm đánh đập và giết hại dã man những người không làm theo ý chúng. Ở Tuol Sleng chỉ có vài ngàn người (có nguồn tin nói có đến 17.000 người), nhưng cả nước Campuchia đã có hơn 3 triệu người bị giết hại. Cả nước Campuchia thời Pol Pot nơi nào cũng là Tuol Sleng!

    ----------------------------------------------------------------------------------------------

    Tomi_66
    :
    Bản thân tôi đã từng tham gia chiến đấu tại mặt trận 479 thuộc trung đoàn 88 , và tôi cũng như các bạn đồng ngũ đều chứng kiến những hố chôn người, những chiếc sọ người bị bể ở phía sau, thật ít những chiếc sọ bị bắn. Đa phần đều bị đập đầu. Tại thành phố Xiêm Riệp, tôi đóng quân tại nơi mà trước kia là trường quân chính, đối diện khách sạn Xihanuc . Chúng tôi ngồi ăn cơm , trời mưa làm trôi đi lớp đất và lòi lên những đầu lâu và xương người trắng hếu . Họ bị giết và vùi xuống đất thật nông chứ không hề được chôn cất tử tế .
  14. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Lê Thái Thọ, nguyên chiến sỹ C11, D3, E1, F9


    Sau khi nghỉ ngơi mấy ngày, tôi được lệnh cùng với một xe của D29 chở đạn và gạo lên tiếp tế cho chốt Pôlây. Cùng đi với tôi có Đức ( tức Đức cối ), Tâm cả hai đều là dân Thanh Hoá. Chúng tôi chuẩn bị súng ống, đạn dược đầy đủ. Con đường lộ 5 từ sân bay lên Pô lây thật vắng vẻ, ít xe cộ qua lại. Tất cả cầu cống trên đường đều có chốt của F15. Xe chạy không nhanh lắm vì đường rất xấu. Anh lái xe bảo chúng tôi phải giao hàng nhanh để còn về sớm, cứ quá 2 giờ chiều vẫn còn lang thang trên đường dễ bị “ phục “ lắm. Chúng tôi lên tới thị trấn, xe rẽ phải vào một con đường nhỏ hướng ra phía Biển Hồ. Đường hẹp và khó đi, xe len lỏi luồn lách qua những rặng cây loà xoà. Một ngôi chùa nhỏ nằm ngay ven đường, đứng trên thùng xe, tôi nhìn thấy trong gian chính ngôi chùa chứa đầy ắp sọ người. Tôi thoáng nghĩ đây chỉ mới là một thị trấn nhỏ mà số người chết dưới chế độ Pôn Pốt còn nhiều như thế này, nếu cả đất nước CPC thì số lượng người chết còn khủng khiếp tới đâu !!!? Xe đi tới khu vực Biển hồ, chốt của đơn vị tôi nằm ngay trên sông. Tôi giương AK bắn ba phát súng báo hiệu là xe chúng tôi đã tới. Một lát sau, một chiếc xuồng ra đón chúng tôi. Anh em trong chốt đã cho cả người ra canh giữ xe ô tô cẩn thận. Chúng tôi chuyển súng đạn, gạo, nhu yếu phẩm xuống xuồng và cùng đi ra chốt.

    Chốt trên sông - một trận địa chốt hoàn toàn mới và lạ đối với tôi. Đó là hai, ba chiếc nhà bè được ghép lại. Nhà làm bằng gỗ, mái lợp tôn. Nhà tương đối rộng rãi, thoáng mát. Cả chốt ước chừng một trung đội “ cứng “. Ở đây, hoàn toàn bất ngờ tôi gặp lại Lợi “ Bọ “ người cùng huấn luyện ở ngoài 308 với tôi, hiện nay phụ trách tại đây. Chốt trang bị hoả lực mạnh : một 12.8 ly, một cối 60, một RPD, một B40 và còn lại là AK, AR15... anh em toàn bộ là thương binh nhưng chưa được xếp hạng thương tật hoặc xếp hạng rồi nhưng chưa đủ điều kiện ra Bắc. Lợi, Vân, Sơn, Mạnh Đạt.... toàn những lính đã từng chinh chiến cả. Sau bữa cơm trưa rất thịnh soạn gồm các món toàn làm từ cá tươi ( bọn ở chốt này không bao giờ phải lo đến thực phẩm ), Mạnh Đạt ( Thái lọ ) nguyên lính thông tin hữu tuyến của E2 vui vẻ giới thiệu với tôi về chốt của chúng nó qua mấy câu thơ tự viết :

    “ Chúng tôi ở trên sông
    Nơi có những cánh rừng ngập trong lòng nước
    Con chim có nhiều nhưng không làm tổ được
    Lũ giặc rình mò, cái chết ở bên trong

    Chúng tôi ở trên sông
    Nơi có những chiều thuyền về đầy cá
    Cô gái Khơ me ửng hồng đôi má
    Gọi tên chúng tôi, anh Coong tóp Việt nam

    Khi mây lặng trời êm
    Chiếc Ca nô nhẹ lướt
    Có những lúc sông giận mình mấy lượt
    Là khi mây đen giăng đầy trời

    .....
    Toàn con trai nhưng rất yêu nhau
    Đứa nào cũng đòi lên cạn
    Nhưng chẳng bù cho mùa hạn
    Đi mấy lần đã ngại đau chân.......... “

    Chẳng là chốt cách thị trấn Pô lây rất xa, nếu mùa nước nổi thì còn có xuồng đưa đến sát thị trấn. Mùa khô, nước rút ra xa, muốn đi chơi Pôlây phải “ cuốc bộ “ xái cẳng.
  15. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [TABLE]
    [TR]
    [TD="width: 85%"]Trung sĩ 1 - trung đoàn 2 - sư đoàn 9
    Vận tải sư đoàn chuyển xong kho vũ khí, chúng tôi lại lên đường. Thời tiết càng về cuối mùa khô càng khốc liệt. Rừng dầu, rừng khộp rụng lá, nắng chói chang. Triền rừng bốc hơi nóng, rung rung dưới nắng. Thảm mục và cỏ gianh dưới chân rừng đã cháy hết, liếm cháy cả bên ngoài lớp vỏ những thân cây. Chúng tôi hành quân, quệt ngang quệt dọc một lúc là mặt mũi quần áo thằng nào thằng nấy lem nha lem nhem, đen sì như hề. Nhưng đáng sợ nhất là thiếu nước. Mang nặng quá, những thứ khác có thể quăng đi chứ bi đông nước thì dứt khoát là không. Đi rạc rài nửa ngày không có nước mà gặp một lòng suối cạn, lớp cát đáy còn hơi âm ẩm là cả một niềm hạnh phúc bất ngờ. Dùng xẻng bộ binh khoét xuống lòng suối khoảng 1m. Ngồi chờ nước ri rỉ ứa ra, lờ lờ đục. Chúng tôi giải khát luôn bằng thứ nước ấy, tích trữ trong bi đông cũng bằng thứ nước ấy. Ấy thế mà không đứa nào bị tháo dạ mới lạ. Một lần, cũng trong tình huống khát nước như thế, chúng tôi tìm thấy một hủm nước trong vắt giữa lòng suối cạn. Trên bờ rặng le ngả bóng xanh om. Quả là may mắn! Chúng nó uống và lấy nước chán chê. Vũng nước đã gần cạn. Đến lượt mình, tôi vục mũ đưa lên miệng làm một hơi sảng khoái cho đã. Nước mát lạnh và ngọt đến không ngờ. Khi vục bi đông để lấy nước dự trữ, tôi bỗng thấy cái gì trăng trắng dưới đáy. Định thần nhìn kỹ lại thì cha mẹ ơi! Cái đầu lâu người trắng nhờ đang nhìn tôi bằng hai hốc mắt vô hồn mọc đầy rêu. Hàm răng nhe ra như nhạo báng. Tôi giật mình bật ngửa hét toáng lên. Mấy thằng chạy ào xuống, ngó vào vũng nước lom lom rồi cũng thấy sởn da gà. Hai hốc mắt sâu hoắm của cái sọ người đang hấp háy, bỗng dựng lên một hàng mi dài thượt như nổi giận. Một thằng can đảm nhất bẻ vội cành le khô chọc xuống, hẩy cái sọ lăn đi. Từ trong hốc xương mắt, mấy con cá nhỏ bị quấy rầy vọt ra. Kinh quá! Hoá ra mấy con cá quậy bên trong làm rêu trong hố mắt toé ra. Ấy thế mà cũng chẳng ai đổ bi đông nước của mình đi. Đằng nào thì cũng đã vào bụng rồi! Dùng thứ nước này còn hơn là uống nước đái. Nói thế bởi vì chúng tôi đã có những lần phải đái ra mà uống. Nắng như thiêu đốt. Hành quân mệt nhọc. Mồ hôi rịn ra giọt nào khô ngay giọt đó, thấm vào quần áo cứng như mo nang. Môi đã nứt nẻ hết cả. Trên bản đồ còn tới 5km nữa mới đến nguồn nước. Thế là tè vào bi đông mà uống để có đủ sức mà lết đi. Mà nước tiểu có nhiều nhặn gì cho cam! Cố mà rặn may chỉ được chục nắp bi đông, đỏ quạch, mặn và nồng không chịu được. Lại một lần khác, đơn vị cũng gần như lả đi vì khát nước thì đại đội 3 phạt hiện một con trâu. Trời cứu ta rồi! Hai loạt AK vang lên. Con trâu ngã kềnh ra. Anh em lao vào xẻ thịt, thái những miếng thịt to như bao diêm rồi quăng vào nồi quân dụng. Lửa được nhóm ngay lập tức. Nồi thịt trâu đã xình xịch nước. Ưu tiên ngay cho những ai yếu nhất. Phần còn lại chia cho mỗi người một hụm. Thịt chín thì rục ngay ra rừng, để đưa lượt thịt mới vào đun tiếp lấy nước. Yên bụng tàm tạm lại khoác súng lên đường thiên lý. Càng đi tới gần suối hay gần nguồn nước càng phải cảnh giác. Địch hoặc thú dữ cũng hay dựa vào đấy để tồn tại qua mùa khô. Giữa vùng rừng khô khát vàng cháy bỗng xuất hiện một vệt xanh sẫm của rặng le thì đích thị đấy là suối hoặc suối cạn rồi. Triển khai đội hình cẩn thận, thậm chí bắn thăm dò, cử tổ cảnh giới xong xuôi mới có thể yên tâm mà giải khát.
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][TABLE]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 100%, colspan: 2"][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
  16. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Mình là hai ruộng lính D7 , E 747 , F 317 .
    Ngày 17 tháng 03 năm 1979 đơn vị mình hành quân vượt biên giới theo ngỏ Sa Mát .

    TP HỒ CHÍ MINH Ngày 23 tháng 5 năm 2009
    Kỹ niệm 30 năm những tháng ngày truy đổi địch .
    Hai Ruộng xin chào các bạn !
    Sau chiến dịch đánh vào phum Svai chếk , chúng tôi lại rút về Kra VA . Nghỉ được vài hôm TS D4 lại nhận nhiệm vụ đi trinh sát về phía đông nam từ phum Kra Va và có cã Hai Ruộng đi , chúng tôi đi một buổi cắt rừng đi qua khu vực bàu nước , gặp một đàn chim ,con nào con nấy rất to lông màu xám , đi khỏang 2km nghe hai trái M79 nổ về phía sau lưng , chúng tôi tiếp tục đi đến vùng có đất có đặc tính thổ nhưỡng giống như vùng định quán , đất đỏ đậm có những hòn đá ong lồi lên trên mặt đất , nơi đây cũng có nhiều vườn cây mảng cầu ( quả na ) giống như vùng Định Qúan của ta , phum nầy rất trù phú . Chúng tôi nghỉ giải lao một tý thì bắt được liên lạc với anh em F 302 , từ phía Kam Pong Chàm lùng sục qua , hai phát M79 do anh em F302 bắn . Sau đó chúng tôi hành quân về báo cáo D4 không phát hiện địch . Một hai ngày sau D4 được lệnh hành quân 3C về hướng lộ 7 , gồm C9 , C11 , C12( hỏa lực , một khẩu cối 82 và một khẩu đại liên có hai bánh xe karinớp) . Cắt rừng ra chúng tôi đụng phum Srâlau Tong . sau đó đóng quân dọc theo lộ 7 . Chốt đường cho Bộ chỉ Huy Mặt Trận hành quân về phía Kam pong Chàm . Đòan xe có M113 đi đầu vừa chạy vừa bắn đại liên 50 thị uy .( Đọan nầy trước đây đã từng bị địch phục kích bắn cháy một đòan xe quân sự của ta còn bỏ lại bên đường 5, 6 chiếc . C9 đóng quân bên khu rừng đối diện phum . Vùng nầy nước giếng màu đen đen . Khi đòan xe đi qua , chúng tôi hành quân về phum Sralau Tong , thì phát hiện bải đất hết sức khủng khiếp . Một khu vườn khỏang nữa mẩu đất đầy xương người , xương người chất chồng trong 6- 7 cái giếng nước , chính vì vậy mà nước giếng xung quanh đây đều có màu đen đen . Trong khu vườn đó ta không thể nào đi mà không đạp lên xương người được , xương đầu lâu rãi rác như gáo dừa bên trong còn chất màu trắng nhão như đất sét , ở những giếng nước , đống xương chất chồng lên cã miệng giếng còn cã quần áo , còn cã lớp da thịt bầy nhầy màu trăng trắng . Lúc nầy chúng tôi đã trở thành những người lính dạn dày kinh nghiệm mà nhìn thấy vẫn còn xởn gai óc , nổi da gà . Đó là dấu tích diệt chủng còn để lại . Đóng quân ở đó vài ngày chúng tôi hỏi thăm những người dân họ kễ rằng : << Đầu tiên bọn lính Pôn Pốt bắt dân vùng đó đào giếng , mỗi giếng sâu 6-7 mét cho đến khi có nước . Sau đó ban đêm chúng đưa máy phát điện đến , rồi mắc đèn pha trên miệng giếng làm sao cho bị chói đèn không nhìn thấy miệng giếng , đồng thời cho loa phát thanh mở nhạc in ỏi . Sau đó chúng dùng xe cam nhông lọai dùng chở đất ben thùng xe lên được . Không biết chúng chở từ đâu tới , một đêm sáu bảy xe chở đầy ắp người bị trói dính chùm lại với nhau trên xe . Chúng cho xe lùi tới miệng giếng , chúng ben thùng xe lên , thế là người trên xe rơi xuống giếng , hết xe nầy đến xe khác , khi nào đầy giếng , chúng dùng cuốc đập đầu những người trên cùng chết , đè những người bên dưới chết theo . những người đã rơi xuống giếng rồi chưa chết ngay có khóc than những người ở xe sau cũng không nghe được vì chúng mở loa phát ra tiếng nhạc át cã tiếng rên la của nạn nhân >> . Đúng là kiểu giết người man rợ nhất trên lịch sữ nhân lọai ở thế kỹ nầy .
    Như vậy mà khi bộ đội ta đánh sụp đổ chế độ nầy , khi chúng đã tàn hơi lại có những nước , những thế lực bênh vực , giúp đở , chi viện mong cho chúng hồi sinh , trong đó có những nước những thế lực mà ngày nay họ đang lớn tiếng đòi bênh vực Tự Do , Nhân Quyền cho thế giới . Vì vậy cho nên họ lơ là đối với phiên tòa Quốc Tế để sử tội ác diệt chủng tại Kam BoDia vừa qua . Đó là chuyện hết sức dễ hiễu .
    Sau khi ở đây vài ngày chúng tôi hành quân vượt qua cây cầu sắt ranh giới Kam pong Chàm và hành quân lùng sục phía nam lộ 7 vùng đồn điền cao su có cã đường băng sân bay nhỏ trong đồn điền . Các bạn nhìn vào hình chụp từ vệ tinh vẫn còn nhìn thấy đó là PHUMI CHÂM KAR CAOUT CHOUC ( Tên phum nầy đọc theo âm của tiếng Pháp có nghĩa là phum vườn cao su ) . Nơi đây nhân dân bạn trồng rất nhiều đậu xanh , bộ đội mang gạo đổi đậu xanh , lúc đầu ăn thấy ngon . sau đó hậu cần thấy đậu rẻ hơn gạo bèn đổi 01 tháng gạo lấy đậu cho anh em ăn . Ăn được vài hôm thấy ngon , sau đó là ngán , rồi đến sợ luôn món cơm độn đậu xanh .
    Chiến dịch kéo dài gần nữa tháng không đụng địch . sau đó chúng tôi bắt đầu hành quân về lại Kra Va . Chúng tôi lại bắt đầu tiếp tục quần nát khu vực Ăng te , Tu bi , Koki Thom , vv… Trong D4 lúc nầy anh em bị sốt rét trầm trọng , có những chiến sỹ bị sốt ác tính đang nằm phục kích gần cứ địch đột nhiên lên cơn sốt mê sản la hét om sòm , đơn vị phải bắt đưa về bệnh xá ngay . Cã D4 không còn một ai là không bị sốt rét , sốt đến nổi nằm trên võng ói liên tục , ói ra cã mật xanh . Trong rừng thì mìn lỡm ngỡm , E ra lệnh cấm tất cã các đơn vị hành quân trên đường mòn . đi đâu cũng phải cắt rừng , đi đường nầy về đường khác . Nếu đơn vị nào để anh em hy sinh trên đường mòn thì thủ trưởng đơn vị đó phải chịu kỹ luật .
    Trình độ phát hiện mìn của anh em cũng nâng lên , khi đi đến vùng cỏ cao ngã qua ngã lại thì chú ý mìn gài dây (mìn vướng) khi ta lấy tay vạch cây ra để bước là sẽ bị nổ , còn vùng có vũng nước, cát mịn , cây ngã ngang đường thường có mìn đạp , khi ta bước qua cây ngã , vì chúng rào hết chướng ngại vật chỉ còn một chổ để ta bước qua , đi theo đường mà gặp cây to cạnh đường hoặc nơi có dấu vết đặc biệt , nơi đó thường có mìn (vì chúng gài rồi chúng cũng phải nhớ chổ để chúng tránh và chúng còn trở lại để gở lên nữa chứ) . Còn nơi đất thịt , đất dẻ không có dấu hiệu đào xới dứt khóat chỗ đó không có mìn được . Trinh Sát chúng tôi khi đi thì sắn cao quần lên đến đùi , tay áo sắn sát lên gần đến nách , có như vậy thì nhờ lớp da của mình khi vướn dây mìn ta có cảm giác , còn nếu mặc quần dài ống thì làm sao có cảm giác được , nón mềm đội quay lưỡi trai về phía sau để tầm nhìn được rộng , nhiều anh còn quấn thêm chiếc khăn cà ma lên đầu . Vì vậy khi bất ngờ địch chạm trinh sát chúng tôi , chúng còn đang ngơ ngác thì đã bị chúng tôi tiêu diệt rồi .
    Trình độ gài mìn của địch cũng phát triển không thua kém gì trình độ phát hiện mìn của ta . Sau nầy khi gài mìn vướng , chúng kéo lọai cỏ cao , đan qua đan lại một khỏang đường rồi mới gài mìn , để khi ta vạch đường mệt chán không thấy gì sau đó đi ẩu sẽ dính . Chúng lấy dây kẻm xỏ vào giữa ống cọng cỏ rồi sau đó mới gài , ta chỉ phát hiện thấy cọng cỏ chứ không phát hiện thấy dây mìn , khi lấy tay gạt cọng cỏ thấy vướn vướn nhìn kỹ xuống bụi cỏ mới thấy mìn , nếu rừng già thì chúng dùng luôn dây leo . Còn mín đạp sau nhiều lần bị ta phát hiện chúng cũng thay đổi cách gài . Chúng lựa nơi đất thịt khéo léo khét một lỗ vừa bằng trái mìn KP2 nhỏ hơn lon sửa bò một tý , sau đó đặt trái mìn vào , lắp đất lại nếu để không như vậy ta sẽ phát hiện dấu đào đất và sẽ phát hiện mìn ngay , chúng mới lấy chỉ một lá cây thôi đậy lại để che lên chổ đất đào và che luôn ngòi mìn , sau đó bẻ gai rừng ghim lá xuống đất không cho gió bay chiếc lá . Anh em ta vô tình đạp lên chiếc lá là dính mìn chết ngay đâu có còn phổ biến kinh nghiệm cho người sau . Chúng tôi phát hiện được cách gài mìn nầy do tình cờ khi ngồi giải lao ở đọan đường gần Ăng Te , anh em nhìn thấy chiếc lá tự nhiên trong rừng không biết có ai đó bẻ cây gai ghim chiếc lá vào đất , tò mò anh em nhè nhẹ gở chiếc lá ra mới nhìn thấy ngòi trái mìn KP2 . Từ đó chúng tôi không đi đạp trên một chiếc lá rơi cho đến khi E ra lệnh cấm đi trên đường mòn .
    . Sau đó D4 bố trí C9 sang đóng quân ở phum Liêu , ở đây đánh một trận . Sau đó qua Bac Sa Na . Bắt đầu áp dụng chiến thuật đánh du kích . ta rải quân khắp rừng từng trung đội xen kẽ với địch .
    HR xin tạm biệt anh em , ngày mai tiếp tục . Xin cảm ơn các bạn theo dỏi bài viết nầy .
  17. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Vinh21 - trung đoàn 316
    Mồng năm D2 nổ súng, trận đánh đã tàn. Địch để lại chừng cở đại đội để nghi binh, Bộ binh xung phong vào, bắn ghăm luôn mấy thằng dưới công sự. Không có chuyện đầu hàng.!
    Việc đầu tiên là tôi cùng mấy anh em trong C ra trãng tìm 2 tử sĩ của đại đội mình. Chỗ cũ đây mà, sao không thấy…? Xa xa Dũng ốm trong Phum chạy ra. Tay ngoắc miệng la, thấy rồi! Bọn Pốt đem 2 bạn tôi về gần cây thốt nốt bìa Phum, Mới nhìn không thể phân biệt ai là H ai là T được, dù lúc còn sống H trông đậm người hơn. Cái nắng kinh người ở K mùa này làm xác2 bạn tôi khô quắt lại, da thịt teo sát xương, đen xạm . Trần truồng, bộ phận sinh dục bị cắt mất, sọ bị đập vỡ.
    Tức nghẹn họng. Ghê thay cái ác ở trên đời này ai bằng bọn Pốt!!!

    D3 bắt giải giao cho E hơn 20 thằng, cho tập trung ngồi bìa trãng, bọn này là Pốt rõ rồi nhưng luôn mồm kêu nó là dân, chưa biết xử lý thế nào. Chẳng lẽ chịu thua nó ha? Bao nhiêu máu của lính ta đổ xuống tại đây. Thả nó đi để nó lại cầm súng bắn mình tiếp?Còn xử thế nào??? Mấy ông anh các C trực thuộc hội ý.
    Lệnh cởi trói, mấy thằng này đều bị cột bằng khăn cà ma của chính nó, tôi vô tình thấy sao cái góc khăn nào cũng gút lại giống nhau, bèn báo, suỵt! để đó đi tụi tao tính rồi.!
    Ta lảng ra, vờ lơ đám này. Hồi lâu, chợt cả bọn hè nhau chạy vào bìa trãng…
    Bằm Bằm Bằm.Đồng loạt tiếng mấy khẩu RBD nổ vang, thằng chạy xa nhất cũng không thoát.
    Dân thì mắc chi phải chạy, tù binh bỏ trốn.Bắn!





    [​IMG]

    Đất nước Kampuchia đã hồi sinh sau 30 năm chế độ Khomedo đã bị quân đội VN tiêu diệt
    Tấm ảnh chụp hình một ngôi chùa ở Kongpong Chàm trên lộ 71
    Từ cửa khẩu Mộc Bài - Ba Vét xe ô tô chạy đến chỗ này mất gần 2 tiếng đồng hồ.
  18. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Thứ Năm, 01/06/2006, 07:12 (GMT+7)
    Phóng sự của TỐ OANH trên báo Tuổi trẻ


    Căn cứ địa của Pol Pot
    [TABLE="align: right"]
    [TR]
    [TD][​IMG]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]Mộ của Pol Pot và những đứa trẻ ở chân núi Dangkrek - Ảnh: Tố Oanh
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]

    TT - Bỏ lại sau lưng quần thể đền đài Angkor vĩ đại, chúng tôi trực chỉ Anlong Veng - vùng biên giới Campuchia - Thái Lan, cách Siem Reap 165km. Nơi mà mãi đến 1998, chỉ cần nhắc đến tên ai cũng rùng mình: hang ổ của Pol Pot - “gã đồ tể số 1” của nhân dân Campuchia... - Lính Khơme Đỏ làm... du lịch!
    Ngọn núi Dangkrek đã ở trước mặt. Chúng tôi rẽ vào con đường nhỏ dốc, gồ ghề đá dài 8km lọt thỏm giữa rừng. Người hướng dẫn cho biết: “Chỉ vài năm trước, chuyện vào đến tận đây là điều không thể, không chỉ mìn dày đặc mà còn là những phiến quân Khơme Đỏ luôn sẵn sàng tấn công bất cứ ai xâm phạm lãnh địa của họ”. Quả thật, trên đường vào, biển cảnh báo mìn vẫn còn ở khắp nơi, có nơi chỉ cách mặt đường 5m!
    Trên đỉnh đồi hiện ra trước mắt chúng tôi là ngôi nhà rộng 1.000m2 nhưng rất hoang tàn. Đó là ngôi nhà Pol Pot ở với vợ sau và con gái từ năm 1989 đến cuối đời. Ngay sau khi Pol Pot qua đời một cách bí ẩn thì chính toán lính cận vệ của ông ta đã đập phá căn nhà này. Họ khuân đi mọi thứ, cả gạch men lát nền nhà cũng bị cạy.
    Dưới giàn hoa giấy đung đưa, bức tường rào bao quanh chỗ còn chỗ mất. Bể nuôi cá trong khuôn viên cũng cạn khô trơ đáy. Bồn chứa nước sinh hoạt vẫn còn nguyên vẹn. Âm dưới nền nhà là căn hầm sâu khoảng 2m gồm hai phòng, nơi đây thường diễn ra những cuộc họp lãnh đạo tối cao của Khơme Đỏ do Pol Pot chủ trì.
    Bên phải cổng ra vào vẫn còn văn phòng làm việc của nhân vật cao cấp Khơme Đỏ Khieu Samphan. Một điều đặc biệt là đứng ở bất cứ vị trí nào trong ngôi nhà này cũng có thể quan sát rất rõ những hoạt động dưới chân núi - một vị thế chiến lược về quân sự.
    Ở ngôi nhà vắng lặng hoang phế này, không chỉ riêng chúng tôi mà hầu hết những du khách tìm đến đây đều rất bất ngờ khi được gặp Rouen Phen, 53 tuổi. Thời trai trẻ ông từng là lính của Khơme Đỏ. Khi Pol Pot đến trú ngụ trên đỉnh núi Dangkrek, do thông thạo địa hình nơi này, Phen được sung vào đội lính cận vệ, bảo vệ căn cứ cho Pol Pot.
    Tháng 4-1998, khi quân Chính phủ hoàng gia Campuchia tiến vào kiểm soát Anlong Veng, Phen ra hàng và sau khi được ân xá thì Phen lại được giao nhiệm vụ bảo vệ ngôi nhà kiêm hướng dẫn viên cho du khách.
    “Ồ! Lần đầu tiên tôi mới thấy du khách VN đến nơi này! - Phen tỏ ra ngạc nhiên và niềm nở khi tiếp xúc chúng tôi - Ngày nào cũng có người đến tham quan căn cứ địa cuối cùng của Khơme Đỏ, nhưng chủ yếu là du khách và các đoàn làm phim phương Tây và Nhật. Tôi thật sự bất ngờ khi chính phủ quyết tâm biến nơi này thành một địa điểm du lịch và chúng tôi lại trở thành người hướng dẫn du lịch”.
    [TABLE="class: tLegend, align: right"]
    [TR]
    [TD][​IMG]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]Rouen Phen, người cận vệ của Pol Pot, bây giờ đã là hướng dẫn viên du lịch với nụ cười thân thiện - Ảnh: Tố Oanh
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]

    Chuyện của chính trị và chiến tranh đã qua, cuộc sống người dân Campuchia ở tận vùng biên giới xa xôi này giờ đã thanh bình. Quản lý toàn bộ khu di tích chiến tranh có tới 20 người, từng là chiến binh Khơme Đỏ, họ không chỉ làm hướng dẫn viên du lịch mà còn làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực biên giới Chham cách đó khoảng 800m. Ngôi mộ đơn độc
    Tục lệ của Campuchia người chết sau khi được hỏa táng, cốt được đem vào gửi ở chùa. Đất nước Campuchia không có mộ bia. Vậy mà trong khu di tích chiến tranh vừa mới được mở cửa cho du khách vào tham quan này lại có một ngôi mộ - đó chính là mộ của Pol Pot. Ông Phen kể: Pol Pot được hỏa táng bằng lốp xe cũ, bàn ghế hỏng và củi.
    Căn nhà dưới núi cũng bị đốt sau khi ông ta chết. Mộ được quây lại bằng những thanh gỗ. Những chiếc vỏ chai thủy tinh cũ được xếp san sát thành đường viền trang trí. Trước mộ vẫn còn ba bốn chiếc đĩa, chén dơ bẩn nằm chỏng chơ và một nắm xôi mốc meo. Có vài cây nhang đang còn đỏ lửa của ai đó vừa thắp. Thật bất ngờ khi Phen cho biết đó là nhang khấn của những người đi... xin số đề!
    Khu di tích chiến tranh đặc biệt này không chỉ có ngôi nhà và mộ phần của Pol Pot, mà còn có cả một hệ thống “dinh thự” của hàng loạt nhân vật cao cấp của Khơme Đỏ như Noun Chea, Khieu Samphan, Ta Mok... Những nơi này giờ đây cũng được đưa vào bản đồ tham quan cho du khách muốn tìm hiểu về một trang sử bi thảm của Campuchia.
    Những ngôi nhà mà chủ nhân của nó phải chịu trách nhiệm về cái chết của hơn 1,7 triệu người dân Campuchia vô tội. Nhà của viên chỉ huy quân sự Ta Mok gần như còn nguyên vẹn nhưng không còn nội thất bên trong. Khách đến nơi này khá đông, khoảng 50-100 người vào cuối tuần, chủ yếu là người Campuchia.
    Anlong Veng, vùng đất mới bình yên nhưng vẫn còn rất nghèo nàn, đặc biệt là khu vực dưới chân núi Dangkrek. Bóng ma diệt chủng đã qua đi, ký ức cuộc chiến lùi về dĩ vãng, người dân Campuchia đang hướng vào tương lai hòa bình và phồn vinh...
    TỐ OANH

    ------------------------------------------------------------------------------


    [​IMG]

    * Tên đồ tể Ponpot đã chết vì bịnh tim vào ngày 15-4 - 1998 tại Anlongven


    [​IMG]
    Vợ và đứa con gái duy nhất của Ponpot
  19. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    Và chế độ diệt chủng Ponpot đã tan rã hoàn toàn vào năm 1998 . Những kẻ sát nhân đã phải hầu tòa


    [TABLE]
    [TR]
    [TD]

    [​IMG] [​IMG]
    [/TD]
    [TD="width: 85%"][HR][/HR]
    [​IMG]

    Những người ở đây đều là nạn nhân ; hoặc có người thân chết dưới tay Duch

    [​IMG]



    Duch cho rằng ; hắn giết người và dạy người khác giết người vì cấp trên ép buộc ... Gia đình hắn bị đe dọa ...

    [​IMG]

    Công tố viên Smith phản đối : "Duch nói vậy là chạy tội..."

    [​IMG]

    Prak Khan ra làm chứng trước tòa "Tôi được đào tạo cách quất tù nhân ; cách giết người bằng điện ; cách dùng túi ni lông làm họ nghẹt thở..."

    [​IMG]

    Các dụng cụ tra tấn tù nhân của trại S-21

    [​IMG][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][TABLE]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, colspan: 2"][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
  20. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: Tội ác Khơ me đỏ

    [TABLE="width: 100%"]
    [TR]
    [TD="width: 85%"]Van Nath làm chứng rằng Duch chưa bao giờ tỏ ra sợ hãi hay lo lắng cả . "S-21 là lãnh địa của hắn ; và hắn là ông chủ.Chúng tôi sợ hắn và phải tỏ ra kính trọng hắn ; làm theo lời chỉ dẫn của hắn..."

    [​IMG]

    Luật sư Francois Roux ; người bảo vệ Duch ; bào chữa rằng : "Duch sinh ra không phải là tên đao phủ , nhưng bị xô đẩy trở nên như vậy ..."

    [​IMG]

    Duch được dẫn trở lại S-21...

    [​IMG]

    Khuôn mặt này muốn biểu lộ điều gì ?

    [​IMG]

    Khi phát biểu lời xin lỗi những người đã bị mình hãm hại ; Duch bật khóc

    [​IMG]
    [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 85%"][TABLE="width: 100%"]
    [TR]
    [TD="class: smalltext, width: 100%, colspan: 2"][/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [TD="class: smalltext"][/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]