Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.

Thảo luận trong 'Lịch Sử Quảng Ngãi' bắt đầu bởi Mystars, 4 / 10/ 2010.

  1. Mystars Guest

    Mình lập ra topic này nhằm tạo cho tất cả các bạn là những người con đất Quảng Ngãi tìm hiểu thêm về những điều mình chưa biết về tỉnh Quảng Ngãi của chúng ta.

    Lý do là thế này: Là mình cũng muốn tìm hiểu về lịch xử, con người...Quảng Ngãi. Nhưng do thấy cuốn "Địa chí Quảng Ngãi" sao mà nó dày quá vậy (làm biếng đọc ak). Nên mình mới nghĩ ra cách này, mấy bạn cứ vào hỏi tự nhiên, tất cả những điều mà các bạn thắc mắc. Một câu hỏi có thể dễ với người này nhưng lại khó với người kia, nên mấy bạn chả ngại gì mà không hỏi cả. tất cả câu hỏi của mấy bạn mình sẽ cố gắn tìm tài liệu để mà giải đáp. Mình sẽ cố gắn tối đa để vừa trả lời vừa học hỏi, còn những bạn nào cảm thấy mình trả lời được thì hãy cùng nhau trả lời và góp ý.

    Tất cả chúng ta là con em đất Quảng Ngãi, nhưng mình nghĩ chắc chắn sẽ còn rất nhiều điều ma chúng mình chưa biết về Quảng Ngãi, đúng không các bạn? hãy chia sẽ những gì mình biết để chúng ta cùng nhau phát triển nhé.


    Các bạn có thể hỏi vây quanh những chủ đề sau:

    + Hành chính, tự nhiên và dân cư
    + Xây dựng và bảo vệ tổ quốc
    + Kinh tế
    + Văn hoá, Xã hội
    + TP Quảng Ngãi và các huyện

    Các bạn có thể hỏi bất cứ một câu hỏi nào về Quảng Ngãi. Về phong tục, tập quán, địa chí....Có thể là rất lâu rùi, không có ai tài giỏi gì hêt, chúng ta cùng nhau trao đổi nhé.

    Vì một Quảng Ngãi giàu mạnh.
     
  2. Mystars

    Mystars Guest

    Ðề: Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.

    Tiếp đến mình sẽ từ từ giới thiệu cuôn sách "Địa chí Quảng Ngãi" đến các bạn để các bạn tham khảo. Vì dài quá nên mình 1 ngày mình chỉ post 1 lần và 1 it thôi ak

    Lời nói đầu


    QUẢNG NGÃI - quê hương của nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng - là một mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo. Tiếp xúc với tiến trình phát triển của đất Quảng Ngãi theo suốt chiều dài lịch sử, người ta không khỏi ngạc nhiên bởi những đóng góp của mảnh đất này vào sự phát triển kinh tế xã hội - văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Nơi đây các nhà khảo cổ học đã tìm được nhiều hiện vật về thời kỳ đồ đá, chứng tỏ mảnh đất này từng có con người sinh tụ và đã có sự hiện diện của một nền văn minh từ thời thượng cổ. Quảng Ngãi là nơi phát hiện đầu tiên, cũng là cái nôi của nền văn minh - văn hóa Sa Huỳnh, có niên đại cách nay 2.500 - 3.000 năm, với những di chỉ hết sức phong phú ở Sa Huỳnh, Thạnh Đức, Lý Sơn. Kế tiếp Văn hóa Sa Huỳnh là Văn hóa Chămpa với kiến trúc thành Châu Sa, tháp Chánh Lộ quy mô, bề thế, mang một phong cách riêng, cùng nhiều di chỉ, di tích khác có niên đại cách đây hàng ngàn năm.

    Kế sau Chămpa, văn hóa Việt trở thành dòng chủ đạo của nền văn hóa đa dân tộc, tiếp tục phát triển từ thế kỷ XV trở về sau. Trong sự giao thoa, chuyển tiếp với Văn hóa Chămpa, sự giao lưu văn hóa với các dân tộc anh em bản địa miền núi là các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong, pha trộn với người Hoa và một số dân tộc khác, đã nhào nặn nơi đất này một sắc thái văn hóa khá độc đáo, góp phần làm phong phú cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam.

    Trải qua những thời kỳ lịch sử lâu dài, lam sơn chướng khí bị đẩy lùi, hình thành nên làng mạc, ruộng đồng, kênh mương, nhà cửa, cây đa, bến nước, đình làng, thành quách, phố xá, nơi lưu dấu biết bao mồ hôi, xương máu, nước mắt và nụ cười của lớp lớp thế hệ chủ nhân đất Quảng Ngãi.

    Các dân tộc ở Quảng Ngãi là người dân Việt Nam, mang đặc tính chung của người Việt Nam và với sự nỗ lực của mình, người Quảng Ngãi đã góp phần tô đậm những nét đẹp quý báu của người Việt Nam. Qua thử thách trong môi trường tự nhiên và xã hội khắc nghiệt, người Quảng Ngãi đã rèn đúc cho mình thêm sự cứng cỏi, dẻo dai, không chỉ có sức chịu đựng mà còn đủ ý chí, nghị lực, sức sáng tạo để cải biến tự nhiên, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

    Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ XVIII, cùng với Bình Định, Quảng Ngãi cũng được xem là cái nôi của phong trào nông dân Tây Sơn ngay từ khi nó mới khởi phát và sau đó đã có những đóng góp không nhỏ vào các cuộc chống ngoại xâm của dân tộc, tạo lập nên các chiến công oanh liệt đánh tan quân Xiêm, đại phá quân Thanh. Quảng Ngãi là quê hương của Trần Quang Diệu, Trương Đăng Đồ và nhiều vị văn thần, võ tướng khác của nhà Tây Sơn. Thời Pháp khởi sự xâm lược Việt Nam, Quảng Ngãi có Hộ đốc Võ Duy Ninh là vị chỉ huy cao cấp đầu tiên của triều đình Huế tử tiết vì thành Gia Định (1859); tiếp sau có Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định trở thành một thủ lĩnh nghĩa quân Nam Kỳ chống Pháp. Sau ngày Kinh đô Huế thất thủ (1885), Quảng Ngãi là nơi phất cờ khởi nghĩa Cần vương chống Pháp đầu tiên ở Nam Trung Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân và mặc dù bị kẻ địch dìm trong bể máu, phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi vẫn liên tục tồn tại hàng chục năm sau. Đầu thế kỷ XX, Quảng Ngãi ghi dấu vào lịch sử Việt Nam bằng những hoạt động mạnh mẽ, tích cực của Duy tân Hội, với các chí sĩ yêu nước Lê Đình Cẩn, Nguyễn Bá Loan, Lê Tựu Khiết… đặc biệt là phong trào cự sưu, khất thuế rầm rộ, có tiếng vang trong khắp cả nước thời bấy giờ. Mặc dù bị kẻ địch đàn áp khốc liệt, nhiều nhà yêu nước và quần chúng bị địch giết hại, tù đày nhưng phong trào yêu nước ở Quảng Ngãi vẫn được tiếp nối với Việt Nam Quang phục Hội, xuất hiện hàng loạt chí sĩ, như Lê Ngung, Nguyễn Thụy, Phạm Cao Chẩm... trong cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1916. Các phong trào, hoạt động yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tuy bị đàn áp đẫm máu, khốc liệt, nhưng lòng yêu nước của người dân Quảng Ngãi không vì thế mà bị dập tắt, nguội lạnh; ngược lại, nó đã liên tục bùng lên mạnh mẽ, nhất là sau khi Ðảng Cộng sản Việt Nam rồi Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi được thành lập. Tiếng trống Đức Phổ vang động ngay từ năm 1930 đã lan ra toàn tỉnh. Người Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi là đồng chí Nguyễn Nghiêm hy sinh, nhưng cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc vẫn tiếp tục phát triển. Nhiều cán bộ Quảng Ngãi cũng góp sức cho phong trào cách mạng ở các tỉnh bạn, nhất là các tỉnh Nam Trung Kỳ. Nhiều chiến sĩ cộng sản xuất hiện như những tấm gương sáng ngời trong đấu tranh cách mạng. Quảng Ngãi là nơi bùng nổ của Khởi nghĩa Ba Tơ và thành lập Đội du kích Ba Tơ - tiền thân của lực lượng vũ trang Liên khu V. Trong Cách mạng tháng Tám, Quảng Ngãi là nơi diễn ra cuộc Tổng khởi nghĩa sớm trong cả nước (14.8.1945) và trở thành cái nôi của vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Ngãi có những sự kiện quan trọng như cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8.1959, Chiến thắng Ba Gia 31.5.1965, Chiến thắng Vạn Tường 18.8.1965, đánh dấu được những chiến công huy hoàng; đồng thời, Quảng Ngãi cũng là nơi chịu nhiều đau thương mất mát, điển hình là vụ thảm sát Sơn Mỹ 16.3.1968, làm chấn động dư luận thế giới và lương tâm loài người.

    Trải qua các cuộc chiến tranh vệ quốc, Quảng Ngãi đã xuất hiện biết bao tấm gương hy sinh vì nước, rèn đúc được nhiều nhà lãnh đạo, nhiều vị tướng lĩnh tài ba thao lược, như Nguyễn Chánh, Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, Trần Quý Hai, Trần Nam Trung, Nguyễn Đôn… và nổi bật là đồng chí Phạm Văn Đồng, người hiến dâng cả cuộc đời cho cách mạng và để lại dấu ấn sâu đậm trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong suốt nhiều thập niên của thế kỷ XX.

    Quảng Ngãi không chỉ nổi bật ở truyền thống yêu nước và cách mạng, mảnh đất này còn nổi bật ở truyền thống lao động sáng tạo, truyền thống văn hóa, tinh thần hiếu học.

    Từ nhiều thế kỷ trước, hàng trăm guồng xe nước trên sông Trà Khúc và sông Vệ đã được xây dựng kỳ vĩ giữa non sông, khiến khách qua đây không khỏi ngạc nhiên, khâm phục và liên tưởng đến hình ảnh của sự nhẫn nại, đức cần cù và tiềm năng sáng tạo lớn lao của người dân miền Ấn - Trà. Từ một vùng quê nhiều giông bão, lũ lụt, hạn hán, bằng bàn tay và khối óc của mình, con người nơi đây đã cải biến cả vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt này thành nơi đất lành. Sản vật của tự nhiên qua bàn tay con người đã trở thành những món ăn đậm phong vị quê hương. Từ loài cá bống, cá thài bai nhỏ nhoi trên sông Trà mà khiến người nơi xa phải nhớ. Từ loài nhuyễn thể vùng nước lợ mà thành món don đậm hương quê nhà. Quảng Ngãi còn nổi tiếng là xứ sở mía đường, là nơi sản xuất đường phèn, đường phổi, kẹo gương, mạch nha và rất nhiều món ăn đặc sản khác. Ở miền núi thì có ốc đá, cá niêng, có rượu đót, rượu cần. Ở hải đảo thì có hải sâm và nhiều loài hải sản mặn mà vị biển. Đồng bằng có vị ngọt của mía thì miền núi có vị thơm nồng của quế Trà Bồng, vị thơm cay của cau Sơn Hà, Sơn Tây, vị ngọt chát của chè Minh Long, vị ngọt lịm của dứa Ba Tơ.

    Vượt lên những lo toan cơm áo hằng ngày, người Quảng Ngãi biết tạo dựng nhà rường, nhà lá mái ở miền xuôi, nhà sàn ở miền núi. Những câu ca dao, điệu hò, điệu lý, hát bả trạo, sắc bùa, bài chòi ở miền xuôi; những khúc dân ca, dân nhạc miền núi; những lễ hội… cùng tạo cho cuộc sống người dân đất này thêm phần đáng yêu và mang nhiều dáng nét riêng. Quảng Ngãi là nơi sinh thành của một số nhà thơ, của các nghệ sĩ lớn của đất nước. Quảng Ngãi nổi tiếng là đất học từ xưa với nhiều nhà khoa bảng Nho học, sang thời kỳ Tân học và nền giáo dục cách mạng càng nổi lên truyền thống hiếu học với nhiều người học giỏi, nhiều người trở thành những nhà học thuật nổi tiếng trong nước.

    Từ sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới (1986), mở cửa hội nhập khu vực, quốc tế, Quảng Ngãi đã có những bước phát triển căn bản về nhiều mặt. Quảng Ngãi đã hoàn thành công trình đại thủy nông Thạch Nham, tưới cho 50.000ha đất canh tác, tạo nên một sức bật mới cho kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Các Khu công nghiệp Quảng Phú, Tịnh Phong hình thành. Đặc biệt, Khu Kinh tế Dung Quất trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được xây dựng, tạo ra một bước đột phá mới cho kinh tế của tỉnh. Thị xã Quảng Ngãi đã trở thành thành phố trực thuộc tỉnh. Các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng phát triển. Lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng có nhiều chuyển biến đi lên. Đời sống mọi mặt của người dân Quảng Ngãi ngày càng được nâng cao.

    Sự phát triển sinh động, phong phú về nhiều mặt của Quảng Ngãi trong sự phát triển chung của đất nước là thuận lợi rất lớn nhưng đồng thời tự thân nó cũng là một thử thách không nhỏ đối với người nghiên cứu. Vấn đề đầu tiên mà những người thực hiện tự hỏi là mình nghiên cứu như thế là đã đúng, đầy đủ, tương xứng, phù hợp với hiện thực của Quảng Ngãi trong quá khứ và hiện tại hay chưa? Đây lại là công trình địa chí Quảng Ngãi đầu tiên kể từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Hiểu được những khó khăn ấy, để các nhà nghiên cứu thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, Hội đồng Biên soạn công trình đã bàn bạc, đề ra nhiều giải pháp, biện pháp thực hiện đúng định hướng và có hiệu quả theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Hội đồng đã mời Phó Giáo sư Trần Nghĩa, Giáo sư Phan Ngọc Liên làm cố vấn chuyên môn và giúp chỉnh biên toàn bộ công trình; đã mời các nhà nghiên cứu, các cán bộ có chuyên môn vững trong tỉnh và trong nước hình thành các tổ tham gia nghiên cứu, biên soạn các phần của công trình. Một khối lượng công việc rất lớn, nhưng quỹ thời gian và điều kiện lại rất có hạn. Trong hai năm 2004 - 2005, những người thực hiện đã làm việc cật lực để công trình hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng. Cho đến cuối năm 2005, công trình đã cơ bản hoàn thành khối lượng như kế hoạch đề ra, kịp ra mắt chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVII.

    "Địa chí Quảng Ngãi" là một công trình khoa học lớn của tỉnh nhà, với rất nhiều nội dung, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với loại công trình như thế này, bản thân những người nghiên cứu dù đã hết sức cố gắng vẫn không dám quả quyết rằng mọi thứ đều đã tốt đẹp. Dù đã nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cho đến sau khi xuất bản, công trình vẫn rất cần sự chỉnh sửa, bổ khuyết, rất cần sự đóng góp chân thành của độc giả để ngày càng tiến đến hoàn thiện.

    Thay mặt Hội đồng Biên soạn công trình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Chỉ đạo công trình, cảm ơn các cơ quan, đơn vị, cá nhân, địa phương đã hết sức giúp đỡ, đặc biệt cảm ơn các nhà nghiên cứu đã không quản gian khó, đem hết tâm lực của mình để công trình đạt kết quả cao nhất.

    TS. NGUYỄN KIM HIỆU

    Chủ tịch Hội đồng Biên soạn
     
  3. Bùi Nhật Tiến

    Bùi Nhật Tiến Friends

    Bài viết:
    636
    Đã được thích:
    249
    Ðề: Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.

    Copy nhưng phải trình bày cho đẹp, phân đoạn , cột, mốc thời gian rõ ràng.
    Nhìn vô 1 rừng toàn chữ nối đuôi nhau thì không ai dám đọc.:shiver:
     
  4. Mystars

    Mystars Guest

    Ðề: Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.

    Hình như TT nhìn chưa rõ đó, phân đoạn, cột mốc thời gian thì không có, nhưng làm j có chuyện không xuông dòng, toàn nối đuôi nhau nữa chứ. Nhìn không kĩ, phán 1 câu lam tuột hứng quá TT ak:cuteonion43::cuteonion43:
     
  5. Bùi Nhật Tiến

    Bùi Nhật Tiến Friends

    Bài viết:
    636
    Đã được thích:
    249
  6. Mystars

    Mystars Guest

    Ðề: Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.


    mình mới sửa, nhưng chỉ thêm khoảng trắng ngay mấy chổ xuông dòng thui chư không co sửa j hết, không như TT nói là nhưu 1 cái rừng, nối đuôi nha, khi copy no đã có săn cho mình hêt rui, xuông dòng hêt rui.
     
  7. gardener

    gardener Guest

    Ðề: Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.

    Topic hay, ý nghĩa. Thanks.
    Ở Quảng Ngãi có rất nhiều con đường mang tên các vị anh hùng (là dân Quảng Ngãi....không kể đến các vị quá nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Hùng Vương...). Bạn có tài liệu gì về các vị này thì chia xẻ ở đây để mọi người biết thêm về các con đường trong thành phố của chúng ta nhé.
     
  8. Mystars

    Mystars Guest

    Ðề: Hỏi đáp về địa chí Quảng Ngãi.


    ok!
    TRẦN QUANG DIỆU (1746 - 1802)
    Trần Quang Diệu sinh năm 1746, người làng Kim Giao, nay thuộc xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ.
    Ông là chồng bà Bùi Thị Xuân và cả hai đều là danh tướng của triều Tây Sơn, từ khi phất cờ tụ nghĩa (1771) đến khi cơ nghiệp nhà Tây Sơn sụp đổ (1802).
    Năm 1784, Trần Quang Diệu được cử theo đoàn quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ cầm đầu kéo vào Nam đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Năm 1789, trong khi Nguyễn Huệ đưa quân ra Thăng Long đại phá quân Thanh xâm lược, ông nhận nhiệm vụ dẹp loạn Lê Duy Chỉ ở Tuyên Quang, góp phần ổn định Bắc Hà. Năm 1790, ông dẫn quân tiến đánh quân Xiêm ở Trấn Ninh (nay là vùng Savannakhẹt, Lào), áp sát biên giới Xiêm La, giết chết tướng giặc, đập tan âm mưu xâm lược của quân Xiêm.
    Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, vua Cảnh Thịnh lên nối ngôi. Triều đình Tây Sơn bắt đầu giai đoạn suy vi. Nguyễn Ánh từ phía Nam, chớp cơ hội đánh lấn dần ra Trung, nhiều lần vây đánh thành Hoàng Đế (Bình Định). Năm 1794 và 1795, Trần Quang Diệu 2 lần kéo quân vây thành Diên Khánh (Khánh Hòa), gây cho quân Nguyễn Ánh nhiều tổn thất.
    Trần Quang Diệu được phong làm Thái phó hợp cùng Nguyễn Văn Huấn (Thiếu bảo), Vũ Văn Dũng (Đại Tư đồ), Nguyễn Văn Danh (Đại Tư mã) gọi là "tứ trụ đại thần" của nhà Tây Sơn. Năm 1799, thành Quy Nhơn rơi vào tay Nguyễn Ánh, vua Tây Sơn cử ông cùng Vũ Văn Dũng kéo quân vào giữ Quảng Nam. Năm 1800, hai ông kéo quân vây hãm thành Quy Nhơn, khiến hai tướng của Nguyễn Ánh giữ thành là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu phải tự vẫn.
    Trong khi Trần Quang Diệu phòng ngự vững chắc ở Quy Nhơn thì quân Nguyễn Ánh kéo ra đánh úp Phú Xuân ngày 3.5 năm Tân Dậu (1801). Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802), ông và Vũ Văn Dũng bỏ thành Quy Nhơn, kéo quân theo đường thượng đạo, vòng qua đất Lào, ra Nghệ An trù tính hội quân với vua Cảnh Thịnh chống lại quân Nguyễn Ánh. Từ châu Quy Hợp, Trần Quang Diệu kéo xuống huyện Hương Sơn thì gặp lúc quân Nguyễn Ánh đã chiếm thành Nghệ An, ông bèn cùng vợ là Bùi Thị Xuân lui về Thanh Chương. Mấy hôm sau cả hai rơi vào tay quân Nguyễn Ánh.
    Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và con gái bị Nguyễn Ánh xử đại hình. Sử cũ chép rằng, khi bị đưa đến nơi xử trảm, ông vẫn giữ nguyên tư thế oai phong, đĩnh đạc của một bậc anh hào.
    LÊ TRUNG ĐÌNH (1857 - 1885)

    Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, người làng Phú Nhơn, nay là thôn Trường Thọ Đông, thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh.
    Lê Trung Đình thi đỗ Cử nhân khoa Giáp Thân (1884) tại trường thi Hương ở Bình Định. Gặp buổi vận nước lao đao, bên ngoài thực dân Pháp âm mưu xâm chiếm đất đai, bên trong triều đình rối ren, ông cùng các chí sĩ Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Nguyễn Tấn Kỳ... vừa dốc sức tổ chức lực lượng hương binh, vừa xây dựng chiến khu ở Tuyền Tung (huyện Bình Sơn) chuẩn bị đối phó với quân xâm lược. Phái chủ chiến ở triều đình cử ông làm Chánh quản Hương binh, sau đó được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện Sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và kế hoạch chống Pháp.
    Sau vụ âm mưu đánh úp quân Pháp ở Huế thất bại (5.7.1885), kinh đô rơi vào tay giặc, vua Hàm Nghi xuất bôn và hạ chiếu Cần vương.
    Ngày 13.7.1885 (1.6 năm Ất Dậu), Lê Trung Đình cùng các thủ lĩnh hương binh kéo quân về tỉnh thành, đòi các quan lại đầu tỉnh cấp vũ khí, lương thực để chống Pháp, nhưng quyền Bố chánh Lê Duy Thụy và quyền Án sát Nguyễn Văn Dụ từ chối.
    Ngay trong đêm ấy, 3.000 hương binh theo lệnh Chánh tướng Lê Trung Đình và Phó tướng Nguyễn Tự Tân tập kết tại khu vực bãi sông Trà Khúc (phía tả ngạn, trước đền Văn Thánh) làm lễ tế cờ rồi vượt sông, tấn công tỉnh thành Quảng Ngãi. Được sự hỗ trợ của lực lượng nội ứng, nghĩa quân nhanh chóng đánh chiếm tỉnh thành, bắt giữ bọn quan lại, tịch thu ấn triện, phát động phong trào Cần vương trong toàn tỉnh, sẵn sàng ứng phó với quân xâm lược. Nghĩa quân làm chủ tỉnh thành được 4 ngày thì bị tên phản bội Nguyễn Thân (vốn là một thành viên Nghĩa hội), đưa lực lượng từ Sơn phòng về, đánh lừa nghĩa quân mở thành, rồi bất ngờ tấn công. Nguyễn Tự Tân hy sinh, Lê Trung Đình bị bắt. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Nguyễn Thân tìm cách lôi kéo Lê Trung Đình đầu hàng, nhưng không thể nào lay chuyển được ý chí của người thủ lĩnh yêu nước.
    Ngày 23.7.1885 (11.6 năm Ất Dậu), Lê Trung Đình bị xử chém ở phía bắc thành Quảng Ngãi. Trên đường ra pháp trường ông ứng tác bài thơ tuyệt mệnh, người đời sau quen gọi là "Lâm hình thời tác":
    Kim nhật lung trung điểu
    Minh triêu trở thượng ngư
    Thử thân hà túc tích
    Xã tắc ai kỳ khu
    (Nay là chim trong lồng
    Mai đã cá trên thớt
    Thân này tiếc gì đâu
    Gian nan tình đất nước)
    Hoàng Tạo dịch
    TRƯƠNG ĐỊNH (1820 - 1864)

    Trương Định sinh quán làng Tư Cung Nam, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Năm 1844, ông theo cha vào Gia Định rồi lấy vợ và lập nghiệp ở Tân An, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Long An).
    Hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình Nguyễn, Trương Định mộ dân nghèo, lập đồn điền (vừa làm ruộng vừa phiên chế thành quân dự bị) ở Gia Định, được phong chức Phó Quản cơ, rồi Quản cơ, nên thường được gọi là Quản Định. Khi quân Pháp chuyển từ Đà Nẵng vào tấn công Gia Định (1859), Trương Định đưa cơ binh ở đồn điền tham gia chống giặc, dùng chiến thuật du kích, tấn công bất ngờ, gây cho Pháp rất nhiều khó khăn.
    Năm 1861, Pháp tấn công đại đồn Chí Hòa, Trương Định lại đưa quân phối hợp với quân của Nguyễn Tri Phương phòng thủ. Đại đồn thất thủ, quân triều đình rút về Biên Hòa, Trương Định không theo họ mà thu quân về Gò Công, hợp cùng Lưu Tiến Thiện, Lê Quang Quyến mộ thêm quân, đắp đồn lũy, xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp. Quân Trương Định lúc này lên đến hơn 6.000 người, phân thành 6 cơ, hoạt động khắp vùng Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Trảng Bàng,... trải rộng từ phía biển lên tới biên giới Cămphuchia, trở thành lực lượng kháng Pháp mạnh nhất trong số hàng chục lực lượng nghĩa binh nổi lên chống giặc khắp Nam Kỳ - Lục tỉnh.
    Phần nào thấy được vai trò của Trương Định, vua Tự Đức phong ông chức Phó Lãnh binh và đến tháng 3.1862 lại cho kiêm chức Tổng chỉ huy đầu mục Gia Định. Ông chuyển bản doanh về Gò Thượng, chỉ huy 18 cơ binh, liên tục tấn công quấy rối, tiêu hao sinh lực địch, làm cho chúng hoang mang, rút bỏ nhiều vùng chiếm đóng.
    Nhưng cũng chính vào lúc này, triều đình Tự Đức lại tỏ ra bị động, lúng túng trong cách đối phó với bọn ngoại xâm. Khâm sai đại thần là Phan Thanh Giản cùng Lâm Duy Hiệp được Tự Đức cử vào Nam khảo sát tình hình, thương thảo với Pháp, ký với Bôna (Bonard) điều ước Nhâm Tuất (5.6.1862), giao 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) cho Pháp, phong cho Trương Định chức Lãnh binh An - Hà (An Giang - Hà Tiên) và ra lệnh cho ông bãi binh. Trương Định từ chối theo lệnh triều đình, và ở lại Gò Công kháng chiến, được suy tôn "Bình Tây Đại nguyên soái", liên kết với các nhóm kháng chiến của nhiều sĩ phu, văn thân Nam Kỳ.
    Ngày 16.12.1862, Trương Định ra lệnh tổng công kích, phản công mạnh mẽ trên khắp các mặt trận, đẩy quân Pháp vào thế lúng túng, bị động.
    Tháng 2.1863, quân Pháp nhận thêm viện binh, lại nhân lúc triều đình án binh bất động, đã tập trung lực lượng gồm 12.000 quân, 8 khẩu đại bác cùng nhiều chiến hạm, tấn công khắp Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công. Nghĩa quân chống cự dũng cảm nhưng vì kẻ địch quân đông, thế mạnh, Trương Định phải lui binh về rừng Sác, sau đó chuyển sang Lý Nhơn, rồi trở lại Đám Lá Tối Trời gây dựng cơ sở kháng chiến.
    Hưởng ứng lời kêu gọi của Trương Định, nhân dân Gò Công, Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Chợ Lớn lại vùng lên kháng Pháp.
    Giữa năm 1864, nghĩa quân chuẩn bị đợt tấn công mới nhằm chiếm lại Tân Hòa. Khi kế hoạch đang được triển khai thì tên nội phản Huỳnh Công Tấn dẫn đường cho quân Pháp đánh úp đại bản doanh Trương Định vào đêm 19 rạng ngày 20.8.1864. Mặc dù quân ít, bị đánh bất ngờ, nhưng Trương Định và nghĩa quân vẫn chiến đấu anh dũng. Rạng sáng ngày 20.8.1864, Trương Định bị thương nặng, ông rút gươm tự sát để bảo toàn khí tiết.


    NGUYỄN BÁ LOAN (1857 - 1908)

    Nguyễn Bá Loan (Ấm Loan) là con Phó bảng Nguyễn Bá Nghi, người làng Lạc Phố, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức.
    Nguyễn Bá Loan tham gia cuộc khởi nghĩa Cần vương tháng 7.1885 do Lê Trung Đình lãnh đạo, phụ trách cánh quân Mộ Đức. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông kéo quân lên miền núi, ngược ra căn cứ Tuyền Tung (huyện Bình Sơn), hợp quân với Nguyễn Tấn Kỳ, liên hệ với nghĩa quân Quảng Nam tấn công giặc ở mạn nam phủ lỵ Bình Sơn (tháng 8.1885), gây cho địch nhiều thiệt hại.
    Cuộc dấy binh ở phía bắc Quảng Ngãi không thành, Nguyễn Bá Loan quay vào Bình Định, liên lạc với nghĩa quân Mai Xuân Thưởng, vạch kế hoạch tấn công lên bản doanh Sơn phòng Nghĩa Định. Âm mưu bị bại lộ, ông lại đưa quân trở lại Bình Định, phối hợp chiến đấu với Mai Xuân Thưởng. Năm 1888, Mai Xuân Thưởng hy sinh, Nguyễn Bá Loan thoát khỏi sự truy bắt của kẻ thù. Năm 1905, ông trở về quê nhà, gia nhập Hội Duy tân. Năm 1907, người đứng đầu Hội Duy tân Quảng Ngãi là Lê Đình Cẩn bị bắt tù đày, ông đảm nhiệm vai trò lãnh đạo. Năm 1908, phong trào kháng thuế cự sưu ở Quảng Nam - Quảng Ngãi bùng nổ dữ dội, Nguyễn Bá Loan được cử vào Ban lãnh đạo đấu tranh của nhân dân Quảng Ngãi. Ngày 7.4.1908, ông bị Pháp bắt và đến ngày 23.4.1908 bị xử chém ở phía đông tỉnh thành.

    NGUYỄN NGHIÊM (1904 - 1931)

    Nguyễn Nghiêm sinh năm 1904, người làng Tân Hội, nay thuộc xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, là chiến sĩ cách mạng vô sản, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
    Nguyễn Nghiêm bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước từ năm 14 tuổi. Năm 20 tuổi (1924), ông tiếp xúc với cụ Trần Kỳ Phong và được nghe nhà cách mạng lão thành đề cập và ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925, Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Ngọc Thụy, Trần Kỳ Truyện lập Công Ái xã và bắt đầu tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin. Về sau, Công Ái xã giải thể, các thành viên tích cực trong đó có Nguyễn Nghiêm chuyển hướng hoạt động và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên thành lập, ông được cử vào Ban Chấp hành, phụ trách huyện Đức Phổ.
    Tháng 7.1929, Bí thư Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi Trương Quang Trọng tập hợp một số đồng chí tại núi Xương Rồng (huyện Đức Phổ) thành lập tổ chức "Dự bị Cộng sản", Nguyễn Nghiêm được giao nhiệm vụ xúc tiến thành lập Đảng bộ tỉnh. Tháng 8.1929, Trương Quang Trọng, Hồ Độ và một số yếu nhân của Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi bị bắt, Nguyễn Nghiêm lãnh đạo các hội viên còn lại thực hiện chủ trương vô sản hóa, cử một số cán bộ liên hệ với các tổ chức cộng sản trong nước.
    Ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, Nguyễn Nghiêm đã bắt liên lạc với Đảng và đến giữa tháng 3.1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi được thành lập do ông làm Bí thư lâm thời. Tháng 6 năm đó, tại Đại hội Đảng bộ lần thứ I tiến hành tại làng Hùng Nghĩa, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, Nguyễn Nghiêm được cử làm Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
    Ngày 1.8.1930, Đảng bộ tổ chức rải truyền đơn, treo biểu ngữ ở nhiều nơi trong tỉnh, khiến kẻ địch hoang mang, ảnh hưởng của Đảng bộ bắt đầu lan rộng trong quần chúng. Đêm 7.10.1930, Nguyễn Nghiêm trực tiếp lãnh đạo hơn 5.000 người xuống đường biểu tình, mít tinh tấn công và làm chủ huyện đường Đức Phổ cho đến sáng hôm sau. Ngày 13.10, Tỉnh ủy họp ở làng Nghĩa Lập (huyện Mộ Đức), chủ trương tiếp tục biểu tình công khai; và về tổ chức, Tỉnh ủy chia làm hai bộ phận: bộ phận phía nam tính từ sông Trà Khúc trở vào do Nguyễn Nghiêm lãnh đạo, phía bắc tỉnh từ sông Trà Khúc trở ra do Phan Thái Ất phụ trách. Nguyễn Nghiêm đi Quảng Nam tìm bắt liên lạc với Xứ ủy Trung Kỳ, xin chỉ thị về việc dấy lên cao trào mùa xuân 1931. Khi về đến Bình Sơn, ông lọt vào tay địch nhưng trốn thoát được, lên Trà Bình. Sau đó theo ủy nhiệm của Xứ ủy, ông vào Bình Định, Phú Yên để củng cố các tổ chức cơ sở Đảng.
    Sau cuộc biểu tình đầu năm 1931, địch bắt mẹ, vợ và đốt nhà Nguyễn Nghiêm, treo giải thưởng cho ai lấy được đầu ông. Ba Tỉnh ủy viên ở phía nam tỉnh bị bắt. Nguyễn Nghiêm chuyển cơ quan Tỉnh ủy từ Tân Hội về Gò Huyện (huyện Mộ Đức). Các đảng viên dự bị được lệnh thoát ly. Tỉnh ủy phát động "3 ngày căm thù" (16, 17, 18.2.1931), làn sóng đấu tranh vùng lên mạnh. Địch ra sức khủng bố, truy lùng. Nguyễn Nghiêm phải cải trang dời về sông Vệ, sau đó về làng An Đại (huyện Tư Nghĩa). Trên đường đi nắm tình hình, Nguyễn Nghiêm bị bắt đêm 15.1 năm Tân Mùi (6.3.1931).
    Trong tù, Nguyễn Nghiêm giữ vững ý chí cách mạng. Mặc cho thực dân Pháp và Tuần vũ Nguyễn Bá Trác lôi kéo, dụ dỗ, tra tấn, ông vẫn giữ tròn khí tiết, tìm cách móc nối với phong trào, xây dựng Chi bộ Đảng trong tù. Không lay chuyển được ý chí của người cộng sản trung kiên, địch đem Nguyễn Nghiêm ra "xử trảm" theo luật Gia Long, tại bãi sông Trà Khúc vào 3 giờ sáng 23.4.1931.
    LÊ NGUNG (? - 1916)

    Lê Ngung người làng Đông Phước, nay thuộc xã Bình Thanh, huyện Bình Sơn.
    Năm 1906, Lê Ngung gia nhập Hội Duy tân Quảng Ngãi, được chọn xuất dương du học, nhưng không thành. Mùa thu 1908, ông cùng Trần Kỳ Phong được cử ra Quảng Nam bàn việc phối hợp đẩy mạnh phong trào kháng thuế, rồi bị địch bắt kết án 6 năm tù. Ra tù (1914) ông liên lạc, vận động các nhà yêu nước Quảng Ngãi chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 2.1915, ông cùng Nguyễn Thụy được các nhà yêu nước Quảng Ngãi - Quảng Nam phân công chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Tháng 3.1916, các yếu nhân Việt Nam Quang phục Hội ở Trung Kỳ quyết định gấp rút khởi nghĩa. Lê Ngung, Nguyễn Thụy, Phạm Cao Chẩm được phân công chỉ huy khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Không may, cuộc mưu khởi bị bại lộ, nhiều nhà lãnh đạo bị bắt và bị xử chém. Lê Ngung uống thuốc độc tự tử, nhưng kẻ thù vẫn đem thi hài ông chém bêu đầu.
    TRẦN KỲ PHONG (1872 - 1941)

    Trần Kỳ Phong người huyện Bình Sơn, sinh trưởng tại làng Châu Me, nay thuộc xã Bình Châu, sau về già sống ở làng Lệ Thủy, nay thuộc xã Bình Trị.
    Trần Kỳ Phong đỗ Tú tài năm 1888, mở trường dạy học ở quê nhà rồi tham gia phong trào Cần vương. Năm 1904, ông gặp chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1906, tham gia thành lập Hội Duy tân Quảng Ngãi. Năm 1908, tham gia phong trào kháng thuế, cự sưu, bị địch bắt, kết án tử hình, sau đổi thành khổ sai chung thân. Đầu năm 1909, ông bị đày ra Côn Đảo, sau giảm án còn 13 năm tù. Ra tù (tháng 3.1921), ông lại bí mật liên hệ với các nhà yêu nước, tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Năm 1926, ông tham gia thành lập một tổ chức yêu nước lấy tên là Tân Việt đảng. Ngay sau đó tổ chức này cử Hồ Độ, Nguyễn Bút ra Nghệ An liên hệ với đảng Tân Việt (ở Vinh) và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, Trần Kỳ Phong chuyển sang hoạt động theo xu hướng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Mùa thu năm 1929, ông bị Pháp bắt bỏ tù 11 tháng. Ra tù, ông lại tiếp tục hoạt động yêu nước. Khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông trở thành một ủng hộ viên tích cực. Ông được Đảng bố trí tham gia nhiều hoạt động trong phong trào dân chủ (1936 - 1939). Ngày 01.7.1937, Trần Kỳ Phong dẫn đầu đoàn biểu tình đến gặp Gôđa và phái bộ chính phủ Pháp để đưa kiến nghị đòi dân sinh, dân chủ. Năm 1939, ông về sống ở làng Lệ Thủy (xã Bình Trị) và qua đời năm 1941.
    NGUYỄN CÔNG PHƯƠNG (1888 - 1972)

    Nguyễn Công Phương người làng Hòa Vinh, nay thuộc xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành. Ông liên tục tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp từ Duy tân Hội (1906), đến kháng thuế, cự sưu (1908), Việt Nam Quang phục Hội. Năm 1926, ông bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản và đến năm 1927 chuyển sang hoạt động theo khuynh hướng cách mạng vô sản của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, sau khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông được kết nạp vào Đảng. Tháng 10 năm đó được bầu vào Tỉnh ủy, được phân công là dự bị Bí thư, rồi là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1935 - 1937), nhiều lần bị địch bắt, bị tù đày.
    Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng huyện Nghĩa Hành, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Quảng Ngãi, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt miền Nam Trung Bộ, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 6.1969, Nguyễn Công Phương được Đại biểu Đại hội quốc dân miền Nam bầu làm ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ông qua đời năm 1972.


    VÕ SỸ (1910 - 1948)

    Võ Sỹ (Lê Văn Sỹ) người làng Minh Tân, nay thuộc xã Đức Minh, huyện Mộ Đức. Năm 1925, Võ Sỹ tham gia tổ chức Công Ái xã, sau đó trở thành hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 8.1929, ông bị bắt bỏ tù. Trong tù ông được những người cộng sản giác ngộ lý tưởng cách mạng vô sản. Ra tù, ông tích cực hoạt động khôi phục tổ chức Đảng và trở thành Bí thư Tỉnh ủy (tháng 1.1932). Sau đó bị Pháp và Nam triều bắt, kết án khổ sai, đày ra Côn Đảo.
    Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông được đón về và được bố trí hoạt động ở Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Pháp, ông lấy tên là Lê Văn Sỹ, tham gia lãnh đạo kháng chiến ở mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và hy sinh khi đang là Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).
    NGUYỄN TỰ TÂN (1848 - 1885)

    Nguyễn Tự Tân người làng Trung Sơn, nay thuộc xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, đỗ Tú tài năm 1868.
    Sau khi quân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858), Nguyễn Tự Tân cùng nhiều sĩ phu yêu nước trong vùng tích cực chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Cuối năm 1884 đầu năm 1885, lực lượng Hương binh Bình Sơn do Lê Trung Đình làm Chánh quản, Nguyễn Tự Tân được cử làm Phó quản đã lên đến con số 3.000 người, ngày đêm tập luyện sẵn sàng chiến đấu.
    Ngày 1.6 năm Ất Dậu (13.7.1885), lực lượng Cần vương do Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Tấn Kỳ lãnh đạo, có sự phối hợp của quân nội ứng, đánh chiếm thành Quảng Ngãi, bắt quan lại, thu ấn kiếm, tổ chức phòng thủ, sẵn sàng chống Pháp.
    Do sự phản bội của Nguyễn Thân, cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Tự Tân hy sinh giữa trận tiền.
    NGUYỄN THỤY (1880 - 1916)

    Nguyễn Thụy (Sụy) người làng Hổ Tiếu, nay thuộc xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, đỗ Cử nhân năm 1903.
    Nguyễn Thụy là thành viên Hội Duy tân Quảng Ngãi, tích cực cổ vũ quần chúng đấu tranh trong phong trào kháng thuế cự sưu 1908. Ông bị bắt đày đi Côn Đảo, đến khi mãn hạn tù lại về quê gia nhập Việt Nam Quang phục Hội. Tháng 2.1915, ông được tổ chức phân công cùng Lê Ngung xây dựng lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Tháng 4.1916, ông được cử vào Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa do các yếu nhân Việt Nam Quang phục Hội ở Trung Kỳ chuẩn bị phát động. Kế hoạch khởi nghĩa không thành và bị đàn áp đẫm máu. Nguyễn Thụy cùng nhiều nhà yêu nước bị bắt. Ngày 9.4 năm Bính Thìn (10.5.1916), Pháp và Nam triều đem ông xử chém.
    VÕ TÒNG (1891 - 1964)

    Võ Tòng (Võ Tùng, Lưu Khải Hồng) người làng An Tây, nay thuộc xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ. Năm 1908, Võ Tòng tham gia phong trào kháng thuế, cự sưu. Năm 1909, ông được Hội Duy tân đưa đi du học. Ông từng học ở Thượng Hải, Bắc Kinh, tham gia quân khởi nghĩa trong cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Hoa và là một trong những người tin cẩn của cụ Phan Bội Châu. Năm 1916, Võ Tòng chuyển sang hoạt động ở Thái Lan, rồi trở thành Bí thư phân bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ông được tổ chức cử đi dự tập huấn ở Quảng Châu (1926), rồi dự Đại hội của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1929). Đầu năm 1930, Võ Tòng đi dự Hội nghị thành lập Đảng ở Hương Cảng, nhưng tới nơi thì Hội nghị đã bế mạc nên chỉ nghe truyền đạt lại nội dung. Trên đường về, ông bị mật thám Thái Lan bắt và giao cho Pháp, bị giải đi khắp các nhà tù Hà Nội, Huế, Sài Gòn, sau bị kết án khổ sai chung thân, đày đi Lao Bảo. Năm 1936, do áp lực của phong trào đấu tranh vì dân sinh dân chủ, thực dân Pháp giảm án tù của Võ Tòng xuống còn 13 năm khổ sai, sau đó đưa về quản thúc ở Quảng Ngãi.
    Tháng 3.1945, Võ Tòng tham gia ban tài chính ủng hộ Đội Du kích Ba Tơ. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Ngãi (1948 - 1950). Sau Hiệp định Giơnevơ (1954) về Đông Dương, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục cống hiến cho cách mạng và qua đời năm 1964 tại Hà Nội.


    TRƯƠNG QUANG TRỌNG (1906 - 1931)

    Trương Quang Trọng sinh năm 1906 tại làng Phú Nhơn, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Đầu thập niên 20 thế kỷ XX, Trương Quang Trọng ra Huế học ban Thành chung, rồi cùng một số bạn học cùng chí hướng thành lập Hội Học sinh Ái hữu Trung Kỳ, có xu hướng tiến bộ, yêu nước. Năm 1923, Trương Quang Trọng ra Hà Nội học ở trường Bưởi rồi thi đỗ vào khoa Y trường Cao đẳng Đông Dương. Năm 1926, ông bị đuổi học vì tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (1925) và để tang cụ Phan Chu Trinh (1926). Trong quá trình tham gia phong trào đấu tranh, Trương Quang Trọng tiếp xúc với Tôn Quang Phiệt và gia nhập đảng Tân Việt. Mùa hè năm 1926, ông trở về Quảng Ngãi, tập hợp các thành viên Công Ái xã (do Nguyễn Thiệu và một số người xây dựng), thành lập Tỉnh bộ đảng Tân Việt, hoạt động theo cương lĩnh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, sau khi Nguyễn Thiệu (đại diện Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phụ trách Trung Kỳ) về làm việc với Tỉnh bộ Tân Việt Quảng Ngãi, Trương Quang Trọng và các đồng chí chuyển hướng hoạt động của Tân Việt Quảng Ngãi, thành lập tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên của tỉnh, do ông làm Bí thư. Cùng năm ấy, Trương Quang Trọng được Tỉnh bộ cử đi dự lớp tập huấn ở Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 5.1929, ông được cử làm đại biểu của Tỉnh bộ Quảng Ngãi dự Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hồng Kông.
    Cuối tháng 7.1929, ông tập hợp các đồng chí tích cực trong Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại núi Xương Rồng (huyện Đức Phổ) thành lập tổ chức "Dự bị cộng sản". Cuối năm 1929, ông cùng 20 đồng chí bị Pháp bắt giam ở nhà lao Quảng Ngãi. Đầu năm 1931, Pháp chuyển số tù nhân này vào lao Quy Nhơn, rồi đưa lên ngục Kon Tum. Đến cuối năm, địch âm mưu chuyển tù chính trị ở Kon Tum đi làm đường ở Đắk Pết, hòng lợi dụng lam sơn chướng khí và lao động khổ sai giết dần giết mòn những người tù yêu nước. Trương Quang Trọng cùng Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Lung (Nghệ An), Nguyễn Long (Hà Tĩnh), Lê Trọng Kha (Quảng Ngãi),... quyết định đấu tranh phản kháng và ông được cử làm Trưởng ban.
    Ngày 12.12.1931, cai ngục truy bức người tù đi lao động khổ sai, Trương Quang Trọng hiên ngang đấu tranh và bị bắn chết. Số tù nhân còn lại quyết liệt đấu tranh, buộc địch phải nhượng bộ, hủy bỏ việc bắt tù đi làm đường. Lịch sử gọi đây là "cuộc đấu tranh lưu huyết" ở ngục Kon Tum.


    NGUYỄN CHÁNH (1914 - 1957)

    Nguyễn Chánh người làng Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh.
    Nguyễn Chánh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930, sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông từng bị Pháp và Nam triều bắt giam tại nhiều nhà tù ở Trung Kỳ. Nguyễn Chánh từng giữ các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1939), Chính trị viên trưởng, Bí thư Chi bộ Đội Du kích Ba Tơ (tháng 3.1945), Bí thư Liên khu ủy V (1951 - 1952), Chính ủy kiêm Tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên khu V, ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II. Đồng chí Nguyễn Chánh là nhà lãnh đạo toàn năng, nhà quân sự tài ba, có đóng góp rất lớn vào việc xây dựng lực lượng Du kích Ba Tơ vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Ngãi và Liên khu V, là người chỉ huy đánh thắng cuộc hành quân Átlăng của Pháp (đánh vào vùng tự do Liên khu V), giải phóng tỉnh Kon Tum. Ông qua đời năm 1957 tại Hà Nội khi đang giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cán bộ, Bộ Quốc phòng.
    NGUYỄN DUY CUNG (1839 - 1885)

    Nguyễn Duy Cung hiệu là Văn Giang, người làng Vạn Tượng, nay thuộc xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi, đỗ Cử nhân năm 1868, là thầy của cử nhân Lê Trung Đình.
    Sau khi thi đỗ, Nguyễn Duy Cung về nhà dạy học một thời gian rồi ra làm quan. Năm 1885, ông được cử giữ chức Án sát tỉnh Bình Định. Tháng 8.1885, khi quân Pháp và tay sai tấn công thành Bình Định, ông đốc thúc tướng sĩ kiên quyết giữ thành. Bị phản bội, thành vỡ, Nguyễn Duy Cung tuẫn tiết (30.6 Ất Dậu, tức 12.8.1885). Trước khi chết, ông lấy máu mình viết lên vạt áo trắng bài Huyết lệ tâm thư ném ra ngoài thành kêu gọi sĩ phu và nhân dân quyết tâm kháng Pháp.
    TRẦN QUANG DIỆU (1746 - 1802)

    Trần Quang Diệu sinh năm 1746, người làng Kim Giao, nay thuộc xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ(1).
    Ông là chồng bà Bùi Thị Xuân và cả hai đều là danh tướng của triều Tây Sơn, từ khi phất cờ tụ nghĩa (1771) đến khi cơ nghiệp nhà Tây Sơn sụp đổ (1802).
    Năm 1784, Trần Quang Diệu được cử theo đoàn quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ cầm đầu kéo vào Nam đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Năm 1789, trong khi Nguyễn Huệ đưa quân ra Thăng Long đại phá quân Thanh xâm lược, ông nhận nhiệm vụ dẹp loạn Lê Duy Chỉ ở Tuyên Quang, góp phần ổn định Bắc Hà. Năm 1790, ông dẫn quân tiến đánh quân Xiêm ở Trấn Ninh (nay là vùng Savannakhẹt, Lào), áp sát biên giới Xiêm La, giết chết tướng giặc, đập tan âm mưu xâm lược của quân Xiêm.
    Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, vua Cảnh Thịnh lên nối ngôi. Triều đình Tây Sơn bắt đầu giai đoạn suy vi. Nguyễn Ánh từ phía Nam, chớp cơ hội đánh lấn dần ra Trung, nhiều lần vây đánh thành Hoàng Đế (Bình Định). Năm 1794 và 1795, Trần Quang Diệu 2 lần kéo quân vây thành Diên Khánh (Khánh Hòa), gây cho quân Nguyễn Ánh nhiều tổn thất.
    Trần Quang Diệu được phong làm Thái phó hợp cùng Nguyễn Văn Huấn (Thiếu bảo), Vũ Văn Dũng (Đại Tư đồ), Nguyễn Văn Danh (Đại Tư mã) gọi là "tứ trụ đại thần" của nhà Tây Sơn. Năm 1799, thành Quy Nhơn rơi vào tay Nguyễn Ánh, vua Tây Sơn cử ông cùng Vũ Văn Dũng kéo quân vào giữ Quảng Nam. Năm 1800, hai ông kéo quân vây hãm thành Quy Nhơn, khiến hai tướng của Nguyễn Ánh giữ thành là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu phải tự vẫn.
    Trong khi Trần Quang Diệu phòng ngự vững chắc ở Quy Nhơn thì quân Nguyễn Ánh kéo ra đánh úp Phú Xuân ngày 3.5 năm Tân Dậu (1801). Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802), ông và Vũ Văn Dũng bỏ thành Quy Nhơn, kéo quân theo đường thượng đạo, vòng qua đất Lào, ra Nghệ An trù tính hội quân với vua Cảnh Thịnh chống lại quân Nguyễn Ánh. Từ châu Quy Hợp, Trần Quang Diệu kéo xuống huyện Hương Sơn thì gặp lúc quân Nguyễn Ánh đã chiếm thành Nghệ An, ông bèn cùng vợ là Bùi Thị Xuân lui về Thanh Chương. Mấy hôm sau cả hai rơi vào tay quân Nguyễn Ánh.
    Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và con gái bị Nguyễn Ánh xử đại hình. Sử cũ chép rằng, khi bị đưa đến nơi xử trảm, ông vẫn giữ nguyên tư thế oai phong, đĩnh đạc của một bậc anh hào.
    TRƯƠNG ĐỊNH (1820 - 1864)

    Trương Định sinh quán làng Tư Cung Nam, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Năm 1844, ông theo cha vào Gia Định rồi lấy vợ và lập nghiệp ở Tân An, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Long An).
    Hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình Nguyễn, Trương Định mộ dân nghèo, lập đồn điền (vừa làm ruộng vừa phiên chế thành quân dự bị) ở Gia Định, được phong chức Phó Quản cơ, rồi Quản cơ, nên thường được gọi là Quản Định. Khi quân Pháp chuyển từ Đà Nẵng vào tấn công Gia Định (1859), Trương Định đưa cơ binh ở đồn điền tham gia chống giặc, dùng chiến thuật du kích, tấn công bất ngờ, gây cho Pháp rất nhiều khó khăn.
    Năm 1861, Pháp tấn công đại đồn Chí Hòa, Trương Định lại đưa quân phối hợp với quân của Nguyễn Tri Phương phòng thủ. Đại đồn thất thủ, quân triều đình rút về Biên Hòa, Trương Định không theo họ mà thu quân về Gò Công, hợp cùng Lưu Tiến Thiện, Lê Quang Quyến mộ thêm quân, đắp đồn lũy, xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp. Quân Trương Định lúc này lên đến hơn 6.000 người, phân thành 6 cơ, hoạt động khắp vùng Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Trảng Bàng,... trải rộng từ phía biển lên tới biên giới Cămphuchia, trở thành lực lượng kháng Pháp mạnh nhất trong số hàng chục lực lượng nghĩa binh nổi lên chống giặc khắp Nam Kỳ - Lục tỉnh.
    Phần nào thấy được vai trò của Trương Định, vua Tự Đức phong ông chức Phó Lãnh binh và đến tháng 3.1862 lại cho kiêm chức Tổng chỉ huy đầu mục Gia Định. Ông chuyển bản doanh về Gò Thượng, chỉ huy 18 cơ binh, liên tục tấn công quấy rối, tiêu hao sinh lực địch, làm cho chúng hoang mang, rút bỏ nhiều vùng chiếm đóng.
    Nhưng cũng chính vào lúc này, triều đình Tự Đức lại tỏ ra bị động, lúng túng trong cách đối phó với bọn ngoại xâm. Khâm sai đại thần là Phan Thanh Giản cùng Lâm Duy Hiệp được Tự Đức cử vào Nam khảo sát tình hình, thương thảo với Pháp, ký với Bôna (Bonard) điều ước Nhâm Tuất (5.6.1862), giao 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) cho Pháp, phong cho Trương Định chức Lãnh binh An - Hà (An Giang - Hà Tiên) và ra lệnh cho ông bãi binh. Trương Định từ chối theo lệnh triều đình, và ở lại Gò Công kháng chiến, được suy tôn "Bình Tây Đại nguyên soái", liên kết với các nhóm kháng chiến của nhiều sĩ phu, văn thân Nam Kỳ.
    Ngày 16.12.1862, Trương Định ra lệnh tổng công kích, phản công mạnh mẽ trên khắp các mặt trận, đẩy quân Pháp vào thế lúng túng, bị động.
    Tháng 2.1863, quân Pháp nhận thêm viện binh, lại nhân lúc triều đình án binh bất động, đã tập trung lực lượng gồm 12.000 quân, 8 khẩu đại bác cùng nhiều chiến hạm, tấn công khắp Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công. Nghĩa quân chống cự dũng cảm nhưng vì kẻ địch quân đông, thế mạnh, Trương Định phải lui binh về rừng Sác, sau đó chuyển sang Lý Nhơn, rồi trở lại Đám Lá Tối Trời gây dựng cơ sở kháng chiến.
    Hưởng ứng lời kêu gọi của Trương Định, nhân dân Gò Công, Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Chợ Lớn lại vùng lên kháng Pháp.
    Giữa năm 1864, nghĩa quân chuẩn bị đợt tấn công mới nhằm chiếm lại Tân Hòa. Khi kế hoạch đang được triển khai thì tên nội phản Huỳnh Công Tấn dẫn đường cho quân Pháp đánh úp đại bản doanh Trương Định vào đêm 19 rạng ngày 20.8.1864. Mặc dù quân ít, bị đánh bất ngờ, nhưng Trương Định và nghĩa quân vẫn chiến đấu anh dũng. Rạng sáng ngày 20.8.1864, Trương Định bị thương nặng, ông rút gươm tự sát để bảo toàn khí tiết.


    PHẠM VĂN ĐỒNG (1906 - 2000)

    Phạm Văn Đng bí danh là Tô, sinh ngày 1.3.1906 tại làng Thi Phổ Nhất, nay thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi; là nhà hoạt động chính trị, nhà văn hóa lớn của Việt Nam.
    Những năm 1925 - 1926, khi đang học tại Hà Nội, ông tham gia phong trào học sinh đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu (1925) và để tang cụ Phan Chu Trinh (1926). Sau đó, ông đi Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1926).
    Cuối năm 1927, ông về nước, tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn, đến đầu năm 1929, được cử vào Kỳ bộ Thanh niên Nam Kỳ. Tháng 5.1929, ông đi Hồng Kông (Trung Quốc) dự Đại hội của tổ chức này và được bầu vào Tổng bộ và Ban trù bị thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 7.1929, Phạm Văn Đồng trở về Sài Gòn hoạt động cách mạng và bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Tháng 7.1936, do thắng lợi của Mặt trận Bình dân Pháp, thực dân Pháp ở Đông Dương buộc phải trả tự do cho Phạm Văn Đồng nhưng lại đưa ông về quê quản thúc. Trở về Quảng Ngãi một thời gian, ông bí mật liên lạc với tổ chức Đảng ở Quảng Ngãi, tiếp tục hoạt động cách mạng, sau đó ra Hà Nội tham gia hoạt động công khai.
    Tháng 5.1940, Phạm Văn Đồng đi Côn Minh (Trung Quốc) gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sau đó, ông được cử đi hoạt động cách mạng ở Liễu Châu, Tĩnh Tây (Trung Quốc). Đầu năm 1942, ông được cử về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Tháng 8.1945, Phạm Văn Đồng dự Đại hội Quốc dân Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 5.1946, ông đảm nhận nhiệm vụ Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán với Chính phủ Cộng hoà Pháp tại Hội nghị Fôngtenơblô (Fontainebleau).
    Trước ngày kháng chiến toàn quốc (19.12.1946), Phạm Văn Đồng được cử vào Quảng Ngãi làm đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ, trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở đây. Đầu năm 1949, ông được điều về chiến khu Việt Bắc. Tháng 8.1949, ông được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Tháng 5.1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Giơnevơ (Genève) về Đông Dương. Từ tháng 9.1954, ông giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại của Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I (1946 - 1960) đến khóa VII (1981 - 1987). Từ tháng 9.1955 đến tháng 12.1986 (31 năm), ông liên tục giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ (có lúc gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Trong nhiều năm ông đảm đương nhiệm vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng chi viện cho tiền tuyến.
    Trong Đảng, năm 1947 ông được bầu bổ sung ủy viên dự khuyết, năm 1949 chuyển thành ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2.1951), lần thứ III (9.1960), lần thứ IV (12.1976), lần thứ V (3.1982), Phạm Văn Đồng đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm ủy viên Bộ Chính trị. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12.1986), lần thứ VII (6.1991) và lần thứ VIII (6.1996), ông được Ban Chấp hành Trung ương Đảng cử làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương; đến tháng 12.1997 được kết thúc nhiệm vụ theo yêu cầu của ông.
    Phạm Văn Đồng qua đời tại Hà Nội ngày 29.4.2000.


    NGUYỄN BÁ LOAN (1857 - 1908)

    Nguyễn Bá Loan (Ấm Loan) là con Phó bảng Nguyễn Bá Nghi, người làng Lạc Phố, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức.
    Nguyễn Bá Loan tham gia cuộc khởi nghĩa Cần vương tháng 7.1885 do Lê Trung Đình lãnh đạo, phụ trách cánh quân Mộ Đức. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông kéo quân lên miền núi, ngược ra căn cứ Tuyền Tung (huyện Bình Sơn), hợp quân với Nguyễn Tấn Kỳ, liên hệ với nghĩa quân Quảng Nam tấn công giặc ở mạn nam phủ lỵ Bình Sơn (tháng 8.1885), gây cho địch nhiều thiệt hại.
    Cuộc dấy binh ở phía bắc Quảng Ngãi không thành, Nguyễn Bá Loan quay vào Bình Định, liên lạc với nghĩa quân Mai Xuân Thưởng, vạch kế hoạch tấn công lên bản doanh Sơn phòng Nghĩa Định. Âm mưu bị bại lộ, ông lại đưa quân trở lại Bình Định, phối hợp chiến đấu với Mai Xuân Thưởng. Năm 1888, Mai Xuân Thưởng hy sinh, Nguyễn Bá Loan thoát khỏi sự truy bắt của kẻ thù. Năm 1905, ông trở về quê nhà, gia nhập Hội Duy tân. Năm 1907, người đứng đầu Hội Duy tân Quảng Ngãi là Lê Đình Cẩn bị bắt tù đày, ông đảm nhiệm vai trò lãnh đạo. Năm 1908, phong trào kháng thuế cự sưu ở Quảng Nam - Quảng Ngãi bùng nổ dữ dội, Nguyễn Bá Loan được cử vào Ban lãnh đạo đấu tranh của nhân dân Quảng Ngãi. Ngày 7.4.1908, ông bị Pháp bắt và đến ngày 23.4.1908 bị xử chém ở phía đông tỉnh thành.


    NGUYỄN NGHIÊM (1904 - 1931)

    Nguyễn Nghiêm sinh năm 1904, người làng Tân Hội, nay thuộc xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, là chiến sĩ cách mạng vô sản, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
    Nguyễn Nghiêm bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước từ năm 14 tuổi. Năm 20 tuổi (1924), ông tiếp xúc với cụ Trần Kỳ Phong và được nghe nhà cách mạng lão thành đề cập và ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925, Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Ngọc Thụy, Trần Kỳ Truyện lập Công Ái xã và bắt đầu tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin. Về sau, Công Ái xã giải thể, các thành viên tích cực trong đó có Nguyễn Nghiêm chuyển hướng hoạt động và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên thành lập, ông được cử vào Ban Chấp hành, phụ trách huyện Đức Phổ.
    Tháng 7.1929, Bí thư Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi Trương Quang Trọng tập hợp một số đồng chí tại núi Xương Rồng (huyện Đức Phổ) thành lập tổ chức "Dự bị Cộng sản", Nguyễn Nghiêm được giao nhiệm vụ xúc tiến thành lập Đảng bộ tỉnh. Tháng 8.1929, Trương Quang Trọng, Hồ Độ và một số yếu nhân của Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi bị bắt, Nguyễn Nghiêm lãnh đạo các hội viên còn lại thực hiện chủ trương vô sản hóa, cử một số cán bộ liên hệ với các tổ chức cộng sản trong nước.
    Ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, Nguyễn Nghiêm đã bắt liên lạc với Đảng và đến giữa tháng 3.1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi được thành lập do ông làm Bí thư lâm thời. Tháng 6 năm đó, tại Đại hội Đảng bộ lần thứ I tiến hành tại làng Hùng Nghĩa, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, Nguyễn Nghiêm được cử làm Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
    Ngày 1.8.1930, Đảng bộ tổ chức rải truyền đơn, treo biểu ngữ ở nhiều nơi trong tỉnh, khiến kẻ địch hoang mang, ảnh hưởng của Đảng bộ bắt đầu lan rộng trong quần chúng. Đêm 7.10.1930, Nguyễn Nghiêm trực tiếp lãnh đạo hơn 5.000 người xuống đường biểu tình, mít tinh tấn công và làm chủ huyện đường Đức Phổ cho đến sáng hôm sau. Ngày 13.10, Tỉnh ủy họp ở làng Nghĩa Lập (huyện Mộ Đức), chủ trương tiếp tục biểu tình công khai; và về tổ chức, Tỉnh ủy chia làm hai bộ phận: bộ phận phía nam tính từ sông Trà Khúc trở vào do Nguyễn Nghiêm lãnh đạo, phía bắc tỉnh từ sông Trà Khúc trở ra do Phan Thái Ất phụ trách. Nguyễn Nghiêm đi Quảng Nam tìm bắt liên lạc với Xứ ủy Trung Kỳ, xin chỉ thị về việc dấy lên cao trào mùa xuân 1931. Khi về đến Bình Sơn, ông lọt vào tay địch nhưng trốn thoát được, lên Trà Bình. Sau đó theo ủy nhiệm của Xứ ủy, ông vào Bình Định, Phú Yên để củng cố các tổ chức cơ sở Đảng.
    Sau cuộc biểu tình đầu năm 1931, địch bắt mẹ, vợ và đốt nhà Nguyễn Nghiêm, treo giải thưởng cho ai lấy được đầu ông. Ba Tỉnh ủy viên ở phía nam tỉnh bị bắt. Nguyễn Nghiêm chuyển cơ quan Tỉnh ủy từ Tân Hội về Gò Huyện (huyện Mộ Đức). Các đảng viên dự bị được lệnh thoát ly. Tỉnh ủy phát động "3 ngày căm thù" (16, 17, 18.2.1931), làn sóng đấu tranh vùng lên mạnh. Địch ra sức khủng bố, truy lùng. Nguyễn Nghiêm phải cải trang dời về sông Vệ, sau đó về làng An Đại (huyện Tư Nghĩa). Trên đường đi nắm tình hình, Nguyễn Nghiêm bị bắt đêm 15.1 năm Tân Mùi (6.3.1931).
    Trong tù, Nguyễn Nghiêm giữ vững ý chí cách mạng. Mặc cho thực dân Pháp và Tuần vũ Nguyễn Bá Trác lôi kéo, dụ dỗ, tra tấn, ông vẫn giữ tròn khí tiết, tìm cách móc nối với phong trào, xây dựng Chi bộ Đảng trong tù. Không lay chuyển được ý chí của người cộng sản trung kiên, địch đem Nguyễn Nghiêm ra "xử trảm" theo luật Gia Long, tại bãi sông Trà Khúc vào 3 giờ sáng 23.4.1931.
    LÊ NGUNG (? - 1916)

    Lê Ngung người làng Đông Phước, nay thuộc xã Bình Thanh, huyện Bình Sơn.
    Năm 1906, Lê Ngung gia nhập Hội Duy tân Quảng Ngãi, được chọn xuất dương du học, nhưng không thành. Mùa thu 1908, ông cùng Trần Kỳ Phong được cử ra Quảng Nam bàn việc phối hợp đẩy mạnh phong trào kháng thuế, rồi bị địch bắt kết án 6 năm tù. Ra tù (1914) ông liên lạc, vận động các nhà yêu nước Quảng Ngãi chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 2.1915, ông cùng Nguyễn Thụy được các nhà yêu nước Quảng Ngãi - Quảng Nam phân công chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Tháng 3.1916, các yếu nhân Việt Nam Quang phục Hội ở Trung Kỳ quyết định gấp rút khởi nghĩa. Lê Ngung, Nguyễn Thụy, Phạm Cao Chẩm được phân công chỉ huy khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Không may, cuộc mưu khởi bị bại lộ, nhiều nhà lãnh đạo bị bắt và bị xử chém. Lê Ngung uống thuốc độc tự tử, nhưng kẻ thù vẫn đem thi hài ông chém bêu đầu.
    TRẦN KỲ PHONG (1872 - 1941)

    Trần Kỳ Phong người huyện Bình Sơn, sinh trưởng tại làng Châu Me, nay thuộc xã Bình Châu, sau về già sống ở làng Lệ Thủy, nay thuộc xã Bình Trị.
    Trần Kỳ Phong đỗ Tú tài năm 1888, mở trường dạy học ở quê nhà rồi tham gia phong trào Cần vương. Năm 1904, ông gặp chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1906, tham gia thành lập Hội Duy tân Quảng Ngãi. Năm 1908, tham gia phong trào kháng thuế, cự sưu, bị địch bắt, kết án tử hình, sau đổi thành khổ sai chung thân. Đầu năm 1909, ông bị đày ra Côn Đảo, sau giảm án còn 13 năm tù. Ra tù (tháng 3.1921), ông lại bí mật liên hệ với các nhà yêu nước, tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa cộng sản. Năm 1926, ông tham gia thành lập một tổ chức yêu nước lấy tên là Tân Việt đảng. Ngay sau đó tổ chức này cử Hồ Độ, Nguyễn Bút ra Nghệ An liên hệ với đảng Tân Việt (ở Vinh) và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, Trần Kỳ Phong chuyển sang hoạt động theo xu hướng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Mùa thu năm 1929, ông bị Pháp bắt bỏ tù 11 tháng. Ra tù, ông lại tiếp tục hoạt động yêu nước. Khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông trở thành một ủng hộ viên tích cực. Ông được Đảng bố trí tham gia nhiều hoạt động trong phong trào dân chủ (1936 - 1939). Ngày 01.7.1937, Trần Kỳ Phong dẫn đầu đoàn biểu tình đến gặp Gôđa và phái bộ chính phủ Pháp để đưa kiến nghị đòi dân sinh, dân chủ. Năm 1939, ông về sống ở làng Lệ Thủy (xã Bình Trị) và qua đời năm 1941.
    NGUYỄN CÔNG PHƯƠNG (1888 - 1972)

    Nguyễn Công Phương người làng Hòa Vinh, nay thuộc xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành. Ông liên tục tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp từ Duy tân Hội (1906), đến kháng thuế, cự sưu (1908), Việt Nam Quang phục Hội. Năm 1926, ông bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản và đến năm 1927 chuyển sang hoạt động theo khuynh hướng cách mạng vô sản của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, sau khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông được kết nạp vào Đảng. Tháng 10 năm đó được bầu vào Tỉnh ủy, được phân công là dự bị Bí thư, rồi là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1935 - 1937), nhiều lần bị địch bắt, bị tù đày.
    Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng huyện Nghĩa Hành, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Quảng Ngãi, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt miền Nam Trung Bộ, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 6.1969, Nguyễn Công Phương được Đại biểu Đại hội quốc dân miền Nam bầu làm ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ông qua đời năm 1972.
    NGUYỄN TỰ TÂN (1848 - 1885)

    Nguyễn Tự Tân người làng Trung Sơn, nay thuộc xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, đỗ Tú tài năm 1868.
    Sau khi quân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858), Nguyễn Tự Tân cùng nhiều sĩ phu yêu nước trong vùng tích cực chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Cuối năm 1884 đầu năm 1885, lực lượng Hương binh Bình Sơn do Lê Trung Đình làm Chánh quản, Nguyễn Tự Tân được cử làm Phó quản đã lên đến con số 3.000 người, ngày đêm tập luyện sẵn sàng chiến đấu.
    Ngày 1.6 năm Ất Dậu (13.7.1885), lực lượng Cần vương do Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Tấn Kỳ lãnh đạo, có sự phối hợp của quân nội ứng, đánh chiếm thành Quảng Ngãi, bắt quan lại, thu ấn kiếm, tổ chức phòng thủ, sẵn sàng chống Pháp.
    Do sự phản bội của Nguyễn Thân, cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Tự Tân hy sinh giữa trận tiền.
    NGUYỄN THỤY (1880 - 1916)

    Nguyễn Thụy (Sụy) người làng Hổ Tiếu, nay thuộc xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, đỗ Cử nhân năm 1903.
    Nguyễn Thụy là thành viên Hội Duy tân Quảng Ngãi, tích cực cổ vũ quần chúng đấu tranh trong phong trào kháng thuế cự sưu 1908. Ông bị bắt đày đi Côn Đảo, đến khi mãn hạn tù lại về quê gia nhập Việt Nam Quang phục Hội. Tháng 2.1915, ông được tổ chức phân công cùng Lê Ngung xây dựng lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Tháng 4.1916, ông được cử vào Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa do các yếu nhân Việt Nam Quang phục Hội ở Trung Kỳ chuẩn bị phát động. Kế hoạch khởi nghĩa không thành và bị đàn áp đẫm máu. Nguyễn Thụy cùng nhiều nhà yêu nước bị bắt. Ngày 9.4 năm Bính Thìn (10.5.1916), Pháp và Nam triều đem ông xử chém


    Chắc có lẽ còn thiếu nhiều nhỉ. Nhưng mình chỉ đưa lên như vây thui. Những bạn nào còn biết j về những con đường mang tên các vị anh hùng thì chúng ta hãy cùng nhau chia sẽ những hiểu biểu của mình cho cả nhà nhé.

    Giờ bạn nào có thể liệt kê những con đường của Quảng Ngãi mang tên các vị anh hùng? mình biết chắc không ai có thể liệt kê hết được, nhưng tất cả chung ta thì có thể đó, mỗi người một ít nhé. Khi các bạn liệt kê đến đâu, mình sẽ cố găn tìm hiều tiểu sử về những người đó cho các bạn. ok?
     
  9. letranhieu14

    letranhieu14 Member

    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    LÊ TRẦN HIẾU KÍNH TẶNG THẦY CÔ

    Tôi nhớ mãi những ngày còn đi học
    Nhớ cô thầy và nhớ mái trường xưa
    Công ơn kia biết nói mấy cho vừa
    Vì hạnh phúc con em mà khổ nhọc ...

    Nơi đẹp nhất cuộc đời là trường học
    Cô với thầy phải khóc nhọc dắt dìu
    Có nhiều khi ngồi suy nghĩ đăm chiêu
    Tìm phương cách để cháu con mở trí

    Chúng con trẻ nên rất lười suy nghĩ
    Tuổi hoa niên thường ôm lấy cuộc đời
    Vẫy tay chào niềm hoan lạc đón mời
    Mà quên chuyện, làm thầy cô phiền muộn

    Con tha thiết xin thầy cô thông cảm
    Đời học trò ngắn chẳng đầy gang
    Trông chớp mắt chỉ còn là kỷ niệm
    Rất mong manh và nhẹ tựa mây ngàn

    Xin tha thứ bởi người xưa còn "bỉnh chúc"
    Chúng con vui vì bởi sợ ngày mai
    Bước ra trường là những tháng năm dài
    Thu lá úa hoặc mùa đông rét mướt

    Những năm cuối chúng con nguyện tiến bước
    Để đáp đền trong muôn một ơn sâu
    Chẳng buông xuôi như nước chảy dưới cầu
    Để xứng đáng với những tấm lòng cao quý

    Ngày hôm nay chúng con nguyện ghi nhớ
    Ngày trọng đại thiêng liêng nhất cuộc đời
    Công thầy cô ôi cao cả tuyệt vời
    Như ánh sáng mặt trời khi ló rạng

    Nếu mai kia cuộc đời con xán lạn
    Đó cũng nhờ công đức của thầy cô
    Ân sâu này xin mang tận xuống đáy mồ
    Xin cô thầy nhận "chân tình tha thiết nhất!"

    ( Lê Trần Hiếu)

    ____________________________

    Nếu kiến thức là một thế giới mênh mông, thì thầy cô là người mở rộng cánh cửa đưa ta đến chân trời bao la ấy.
    Nếu mỗi cuộc đời là một cánh diều thì thầy cô là ngọn gió nâng những cánh diều bay cao...
    Cám ơn thầy, cô đã suốt đời tận tuỵ!Xem thêm