" Kí ức tuổi thơ máu lửa "

Thảo luận trong 'Lịch Sử Quảng Ngãi' bắt đầu bởi Lamson81, 14 / 01/ 2011.

  1. zuka

    zuka VK UI OF NQN Staff Member

    Bài viết:
    1.059
    Đã được thích:
    14
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    bài viết hay và có ý nghĩa.....tk về bài viết hay..mong sao 4r ta ngày còn có những bài như thế này....
     
  2. DongcO_QN

    DongcO_QN Member

    Bài viết:
    7
    Đã được thích:
    0
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    cảm ơn vì bàn viết của bạn.rất thiết thực.hi
     
  3. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    MỘT HÌNH THÁI MỚI CỦA CHIẾN TRANH

    Thời gian sau hiệp định Pari, lúc đầu quân VNCH còn tổ chức phản công rầm rộ để chiếm lại những phần đất đã mất, nhưng sau đó lại mất tiếp những phần đất đã chiếm được. Lúc này đạn dược bị Mĩ cắt viện trợ nên pháo bắn cũng rất hạn chế. Nhiều vụ ám sát nổ ra giữa ban ngày cho nên tụi ác ôn không còn hung hăng như trước nữa. Đặc biệt quân giải phóng lúc này hay dùng chiến thuật đặc công để đánh đồn.

    Một hôm trên đường đi học, gần tới cầu Nước Mặn, thấy một số người đứng xem cái gì đó. Tới nơi tôi thấy hai xác người đen thui đang nằm chết bên lề đường. Đó là hai thanh niên, người mập tròn quay, người nào mình mẫy cũng đen thui. Màu đen là do sơn lên người giống như lọ nồi bôi lên chứ không phải đen cháy do thuốc nổ. Đặc biệt có một người nằm trần truồng, không một mảnh quần áo che thân. Có ai đó tủ lên chổ kín của anh bằng một miếng vải bằng bàn tay. Có lẽ khi địch kéo xác từ bên ngoài đồn lên lề đường thì cái quần đùi đã bị móc vào hàng rào kẽm gai nên tuột mất. Mọi người nhìn cái xác trần truồng đều thương cảm cho anh. Một người nói.

    - Sao phải bôi mình mẩy đen thui thế nhỉ ?
    - Lính đặc công mà ! Phải bôi đen như thế để khi mò vào đồn mới khó bị phát hiện.

    Những lần sau ở Cầu Nước Mặn lại liên tiếp thấy những xác của các chiến sĩ đặc công bị bắn chết bỏ bên ven đường. Khi thì một người, khi thì 2 người, khi thì người sơn đen, khi thì sơn xanh. Tất cả đều là thanh niên lứa tuổi đôi mươi, người nào cũng mập mạp tròn quay, không giống các ông giải phóng bị giật hầm trong các trận càn thì người nào cũng gầy nhom, mặt mày hốc hác vì thuốc nổ. Nhìn sang bên ngoài đồn ở Cầu Nước mặn tôi thấy rất là trống trải, chỉ vài bụi cỏ tranh lưa thưa bên những lớp rào bùng nhùng, rào vướng chân nằm sát mặt đất. Đứng trên đường QL còn thấy cả những trái mìn laymo được gắn trên 3 chân quay bề lõm ra ngoài. Thế thì làm sao những người đặc công có thể cắt được mấy lớp rào đầy mìn bẫy như thế để vào đồn, nên chưa có lần nào đặc công tiêu diệt được đồn Nước Mặn. Cây Cầu này do một trung đội lính người thượng trấn giữ, có mang theo cả vợ con ở trong đồn. Hằng ngày vẫn thấy những người vợ lính mặc chăn ( cà tu ) đi bắt cá, bắt những con nòng nọc, ếch nhái ở cánh đồng ven đồn để về ăn.

    Có một lần đặc công mò được vào đồi Núi Thụ - Cách cầu Nước Mặn hơn 1km về hướng bắc - bắt sống được toàn bộ trung đội ngụy, mười mấy tên, nhưng tiếc thay, tên đồn trưởng Lin là ác ôn đêm ấy đi sang đồi Núi Bé để đánh bài nên thoát chết.

    Một hôm ông Thìn bị lính bắt đi chôn những người đặc công, khi về ông lấy cho mọi người xem một tờ bạc 500đ có dính nhiều máu. Ông nói rằng những lần đi chôn xác thì đều thấy trong người của các chiến sĩ có một tờ bạc như thế. Có lẽ đó là tài sản duy nhất mà người lính mang theo để lỡ khi chạy lạc vào vùng địch thì vẫn có tiền để sống tạm vài ngày.

    [​IMG]
    Tờ bạc 500đ VNCH

    Song song với việc tấn công nhau bằng súng đạn, thì cả hai bên cũng đều ra sức tuyên truyền bằng
    chiến tranh tâm lí. Phía Cách mạng lúc này cũng thấy có truyền đơn được đánh máy trên giấy pulia bằng nửa trang giấy học trò và rãi trên QL, nhưng rất ít. Còn công tác mitinh, gọi loa thì nhiều. Phía VNCH thì sau hiệp định Pari nhà nào có mái tôn cũng đều bị vẽ lên lá cờ ba sọc, vẽ cả lên những bức tường. Còn truyền đơn thì nhiều vô kể.

    Một hôm ông ngoại tôi đi làm đồng về đưa cho tôi một mãnh giấy và bảo tôi đọc lên nghe. Tôi cầm lên xem thì đúng là tờ truyền đơn mà tôi đã đọc nhiều lần. Trong tờ truyền đơn là một bài thơ của một người lính Bắc Việt gởi cho một người mẹ. Từ 1970 đến giờ Máy bay đã rãi nhiều lần bài thơ này, rãi trắng cả đồng. Mặt trước của tờ truyền đơn vẽ hình ảnh người mẹ già với đôi mắt buồn nhớ con, bên cạnh là cảnh chiều quê với xóm nhỏ có con trâu về chuồng, có dàn mướp. Mặt sau vẽ cảnh người chiến sĩ ngồi bệt dưới đất, chân duỗi ra, đầu cuối xuống , gương mặt buồn bã. Hôm ấy tôi đọc bài thơ cũng có nhiều người đứng xem, ai cũng khen bài thơ hay quá. Có lẽ tác giả đúng là một người lính Bắc Việt thật sự mới có nhưng cảm xúc thật sự như thế. Nhưng tiếc rằng đoạn sau tác giả lại nhìn nhận không đúng về mục tiêu chiến đấu giải phóng Miền nam của mình. Bây giờ nhắc lại thì chẳng ai thuộc hết bài thơ, riêng tôi thì vẫn hay nhẩm đọc lại, nên vẫn còn nhớ đầy đủ từng chữ, từng câu, từng hình ảnh của tờ truyền đơn khi ấy.



    Lamson81 tái hiện lại hình ảnh thực mặt trước và sau của lá truyền đơn khi ấy, trên phần mềm Autocad.

    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] truyen don 1.jpg
    [​IMG]
    [​IMG] truyen don 2.jpg

    Đăng lại tờ truyền đơn đã mất


    [​IMG]


    [​IMG]

     
  4. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Ở đoạn trước tác giả tả cảnh gian khổ của người lính trên đường vào nam chiến đấu, với nổi nhớ quê hương da diết

    “Mấy tháng trời đêm nghỉ, ngày đi
    Giày vẹt gót , áo sờn vai thấm lạnh
    Có những chiều trường sơn núi rừng hiu quạnh
    Mẹ hiền ơi, con chợt nhớ đến quê mình
    Khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh
    Con bướm nhỏ, mái đình xưa nhớ quá”

    Nhưng sự gian khổ ấy không làm nhụt chí nam nhi :

    “Vì hòa bình đâu có ngại bước gian nguy”

    Đoạn đầu đã thể hiện lí tưởng của lớp thanh niên lên đường đánh Mĩ khi ấy. Nhưng đoạn sau tác giả lại rơi vào sai lầm khi viết:

    “ Con nhìn ra nào giải phóng vì đâu ? ”

    Khát vọng thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ nước Việt nam là khát vọng của cả dân tộc. Vì nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một, không ai có thể chia cắt được. Nhưng Đế Quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã bội ước hiệp định Giơ ne vơ, nên mới có cuộc chiến tranh mới kéo dài mãi đến bây giờ.

    -Xem thêm Hiệp định Giơ ne vơ : http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Gen%C3%A8ve,_1954

    Bài thơ tuy có hạn chế như trên, nhưng đã để lại trong tôi một cảm xúc đặc biệt về một thời chiến tranh khói lửa.


    - Một mẫu truyền đơn khác của bài thơ "Thư gởi mẹ"



    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] thu goi me.jpg
     
  5. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
  6. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Ngoài tờ truyền đơn trên, thời gian sau 1972, địch còn rãi nhiều kiểu truyền đơn khác mà tụi nhỏ chúng tôi thường chạy lượm về chơi như những tờ tiền mới.

    Hình 1 : Máy bay rãi truyền đơn
    Hình 4 : Địch khống chế tù nhân, buộc phải cầm khẩu hiệu để chụp hình

    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Máy bay rãi TD.jpg
    [​IMG]
    [​IMG] chieuhoi1.jpg
    [​IMG]
    [​IMG] T đơn máy bay bắn vào nhà.jpg
    [​IMG]
    [​IMG] sân tù.jpg
     
  7. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    MỘT NGƯỜI LÍNH CHIÊU HỒI VÀ MỘT NGƯỜI LÍNH PHẢN CHIẾN

    Thời gian này tôi đã vào trường Trung học Mộ Đức, ở thị trấn Đồng Cát. Một buổi sáng đến trường thì không học như mọi khi mà nhà trường gọi tập hợp học sinh lại, ngồi sắp hàng dưới sân để chờ đợi một cái gì đó. Một lát sau có một chiếc xe JEEP chạy vào trường, trên xe có cả lính và vài người mặc đồ dân sự. Thầy hiệu trưởng giới thiệu vị thiếu tá quận trưởng lên nói chuyện. Vị thiếu tá lên trước bục giới thiệu: “hôm nay có một người bộ đội Bắc Việt đã hồi chánh về với Chính nghĩa Quốc Gia, sẽ lên nói chuyện với toàn trường”. Gần cả nghìn cặp mắt đổ dồn về một người đàn ông mặc đồ dân thường, cở 30 tuổi đang bước lên bục. Anh ta nói tiếng bắc, cũng có giới thiệu tên nhưng tôi cũng không còn nhớ. Anh ta kể nhiều chuyện, nhưng tôi chỉ nhớ đại khái là ở nông thôn Miền bắc thì mọi người đều phải vào hợp tác xã. Mọi tài sản đều là của tập thể, đi làm theo tiếng kẻng và ăn theo công điểm rất là đói khổ. Ngày lễ thì không được nghỉ mà phải làm việc bằng 2, bằng 3, hội hè đều bỏ hết … Ở Miền nam thì thấy cuộc sống rất no ấm cho nên anh ta quyết định chạy về với Quốc gia …
    Không biết anh ta có phải đúng là lính Bắc chiêu hồi hay là dân di cư, và anh ta kể sao thì hay vậy chứ cả trường cũng chẳng có ai biết đúng, sai như thế nào.

    Vài tuần sau thì tôi lại chứng kiến tiếp một vụ hoàn toàn tương phản với vụ nầy. Đó là việc một người lính sư đoàn 2 bỏ ngũ chạy ra vùng giải phóng.

    Hằng ngày tôi vẫn về quê nội ở Thiệp Sơn để trồng củ, tỉa đậu … Bà nội tôi vẫn hay nấu củ lang, củ mì, tới mùa thì nấu đậu phộng để ăn chiều. Những lần như thế thì cũng thường gặp các người lính sư đoàn 2 đóng quân trên đồi Chóp Vung đi xuống xóm lấy nước và được mọi người mời cùng ăn. Ăn xong thì các anh lính đó đổ nước đầy vào các ống đạn, mỗi ống cỡ vài chục kí, rồi vác lên đồi. Khi trước ở đây do lính thuộc trung đoàn 4 đóng quân, lính trung đoàn 4 đa số là dân Miền trung và rất hung dữ. Thời gian này lính trung đoàn 5 đổi về đóng ở đồi Chóp Vung, đa số là dân Miền nam, nói tiếng Nam bộ rất dễ nghe và ai cũng rất hiền.

    Một buổi chiều, mọi người đang ăn củ mì thì có một người lính đi tới. Mọi người ngạc nhiên sao hôm nay chỉ có một người. Ông tôi mời anh ăn củ nhưng anh không ăn mà nói.

    - Bác có biết giải phóng họ ở chổ nào không ?
    - Ủa làm sao tôi biết được họ ở đâu ? Ông tôi nói.
    - Nói thật với bác là cháu muốn chạy qua bên giải phóng để tìm đường về quê, mấy năm rồi không được về nhà. Cháu ngán ngẫm cái đời lính này quá rồi

    Thật ra ai cũng biết vùng có du kích gần đây lắm, nhưng ai biết anh ta nói thật hay lừa mình để bắt bớ đây ? Ai cũng bảo không biết ở đâu có du kích, nhưng anh ta cứ năn nỉ mãi. Ông tôi nói.

    - quê của chú ở đâu vậy ?
    - Ở Cần Thơ, nhà cháu hiện giờ ở trong vùng giải phóng. Người nào dẫn dùm tui ra gặp mấy ông giải phóng đi ?

    Lúc nầy thì ai cũng cũng cảm nhận rằng anh ta nói thật lòng mình, nhưng dẫn đi thì chẳng ai dám. Mọi người mới nói rằng thấy du kích hay ở dưới xóm kia, rồi ai cũng đưa tay chỉ về hướng thôn Mỹ Thuận ( là nơi du kích xã Phổ Thuận ở ), chỉ cách đây một cây số đi qua một cánh đồng. Anh lính liền cảm ơn rồi xăm xăm bước vội về hướng ấy như sợ để chậm sẽ bị bắt trở lại. Sau đó cũng chẳng biết số phận của người lính ấy ra sao nữa.

    CHUYỆN HỌC HÀNH.

    Cuối bậc tiểu học thời ấy vẫn tổ chức thi để cấp chứng chỉ gọi là CHỨNG CHỈ HỌC TRÌNH. Tiếp sau đó là đợt thi tuyển vào trường trung học công lập. Ai không đậu thì học trường bán công hoặc trường tư thục, giống như tuyển sinh vào PTTH hiện nay. Nộp đơn thi thì cũng chẳng thấy xét lí lịch gì, làm bài thi vẫn cắt phách và ngồi theo số báo danh. Trong phòng thi thì tôi vẫn thấy có cô giáo giám thị đưa tài liệu cho thí sinh quen biết, giống như bây giờ.

    [​IMG]

    Hằng ngày đạp xe đến trường đi về 20km rất mệt nhọc, nhưng cũng rất vui, vì được biết thêm nhiều thầy cô và bạn bè mới, biết thêm được cuộc sống của người dân ven QL ở địa bàn huyện Mộ Đức. Những nơi nầy cũng giống như quê tôi, thỉnh thoảng vẫn thấy những trận đánh vào cả ban ngày ở những nơi xa xa, súng đạn nổ rền, nhà cháy khói bay lên nghi ngút. Lâu lâu cũng thấy xác của các ông giải phóng bỏ nằm ven đường.

    Trong lớp học những đứa lớn tuổi cũng hay kể chuyện thời sự, kể chuyện các trận đánh xảy ra ở chổ này, chổ kia. Rồi cũng thường hay đùa giỡn là : “Chán học thì tao đi nhảy núi”. “Nhảy núi” là cái từ để chỉ những người thoát ly đi theo cách mạng ( Vì cách mạng thường trú ẩn ở trên núi ). Cũng có nhiều lần tranh luận giữa những đứa là con em gia đình cách mạng với những đứa con của ngụy quân, ngụy quyền về các vụ bắn giết trong các trận chiến đã xảy ra. Nhưng thường những đứa theo phe cách mạng đông hơn nhiều lần những đứa kia.

    Vào trung học ( Lớp 6 đến lớp 12 ) thì nữ sinh phải mặc áo dài trắng, nam sinh thì vẫn quần xanh áo trắng có biển tên. Những đứa mất trật tự hoặc không thuộc bài là bị thầy cô cầm cây đánh thẳng tay. Sợ nhất là giờ thầy S. dạy toán. Thầy dạy rất hay, dễ hiểu, nhưng đánh cũng rất dữ. Có những đứa con gái mặc áo dài lên bảng không thuộc bài bị thầy quất 4-5 cây phải hẩy cái mông tới trước cho bớt đau, mặt mày thì nhăn nhó trông thật tội nghiệp. Nghe các anh lớp trên kể lại rằng vào mấy năm trước, trong một giờ giảng, thầy S. thấy một học sinh nam cũng lớn xác ngồi ngủ trong lớp, thầy gọi học sinh đó đứng lên và nói.

    - Ê, thằng kia ! Hồi hôm mầy đi phá vi hay sao giờ này lại ngủ trong lớp ?

    Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì nhân dân có phong trào phá tung hết các ấp chiến lược để về quê cũ, gọi là phá vi ( bờ vi : hàng rào ấp chiến lược ) Phá vi thường là đêm khuya, hầu hết mọi người, từ cụ già đến các em học sinh đều tham gia, và bờ vi lần lượt bị đốt cháy tan tành. Thầy S. có lẽ vô tình nói đùa như thế chứ chẳng phải bài xích gì chuyện phá vi. Nhưng sau đó, em học sinh kia về nói lại với du kích. Vài đêm sau, các anh du kích đến nhà mời thầy lên núi học tập 3 tháng mới cho về. Cũng có những thầy hay tuyên truyền về cách mạng cho học sinh thì cũng bị chuyển đi nơi khác. Sau đó hầu hết các thầy giáo cũng chỉ dạy những điều chuyên môn trên lớp chứ chẳng thấy khi nào nói đến vấn đề chính trị với học sinh. Kể cả các thầy giáo dạy sử cũng chỉ nói những điều trong sách giáo khoa chứ chẳng dám nhận xét gì về tình hình chiến sự đang nổ ra hằng ngày. Có những đứa học sinh bỏ học “nhảy núi” theo cách mạng vì lí tưởng, nhưng cũng có đứa vì lười học bị quở mắng, thậm chí, chặn đánh thầy rồi “nhảy núi”.

    Thời gian này anh Nhơn là con cậu tôi cũng đang học lớp 12 ngoài thị xã Quảng Ngãi. Khi ấy đang học trung học thì có thẻ học sinh và tạm hoãn quân dịch. Hằng tuần anh vẫn cưỡi xe đạp về quê và đem theo những quyển sách dày cộm, Khi nghĩ hè thì mang về cả thùng sách. Bởi vậy tôi có điều kiện đọc được nhiều sách giáo khoa thời ấy. Sách lịch sử thì chỉ nói chung chung về khởi nghĩa tháng 8 – 1945 giành chính quyền, về quân kháng chiến Việt Nam thắng quân Pháp ở Điện Biên Phủ, mà không hề nói ai là người lãnh đạo làm nên các chiến thắng đó. Giai đoạn chiến tranh sau 1954 không thấy nói đến.

    Về Văn học thì thấy học chỉ toàn các tác phẩm văn học lãng mạn của nhóm Tự lực Văn Đoàn như các tiểu thuyết : Đoạn tuyệt, Hồn bướm mơ tiên, Nữa chừng xuân, Anh phải sống, Đời mưa gió … của các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch lam … Trong các tác phẩm này chủ yếu là kể chuyện tình yêu nam nữ, đôi khi cũng có đã phá các hủ tục lạc hậu của chế độ phong kiến, nhưng rất nhẹ nhàng , mờ nhạt. Cũng có một vài nhân vật trong các tác phẩm ấy nói là đi làm cách mạng, nhưng chẳng nói rõ là làm gì ? theo tổ chức nào ? và làm cách mạng để đánh đổ cái gì ?

    Sau này được học về văn học sử tôi mới biết rằng thời kỳ trước năm 1945 ở nước ta có 3 dòng văn học :

    - Dòng văn học Cách mạng : Thơ văn của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu
    Phan Châu Trinh …
    - Dòng văn học Hiện thực phê phán : Các tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Chí phèo của Nam Cao, Bước
    đường cùng của Nguyễn Công Hoan …

    - Dòng văn học Lãng mạn : Các tác Phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn …

    Tất nhiên Văn thơ của Bác Hồ và Tố Hữu thì không thể có trong sách GK của VNCH rồi, nhưng các tác phẩm yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu trinh, hay dòng văn học Hiện thực phê phán mà không thấy đưa vào nhà trường là một điều thiếu sót lớn của SGK thời ấy. Có thể là tôi chưa học đến lớp đó trong thời ấy, nên có nhận xét chưa hoàn chỉnh. Mong các bác nào học tú tài thời ấy sẽ bổ sung thêm.

    CHUYỆN VĂN HÓA VĂN NGHỆ

    Về văn nghệ thì lúc ấy thì học sinh hay hát các bài hát yêu đương như bài : Nhớ người yêu, Căn nhà màu tím, Căn nhà ngoại ô … và một số bài về lính như : Rừng lá thấp, Sương trắng miền quê ngoại, Người em xóm đạo … Thỉnh thoảng ở trường cũng có tổ chức sinh hoạt ngoài trời, văn nghệ ca hát. Những lần như thế tôi thấy một anh lớp 11 hay hát bài “Những đồi hoa sim” và hát hay lắm. Sau đó thấy rất nhiều người cũng thường hát bài này.

    Mời các bạn nghe bài hát : http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=1nkH1tPTm

    Sau này khi biết bài thơ : “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan tôi mới biết bài hát này của DZung Chinh đã viết từ cảm xúc về bài thơ của Hữu Loan. Cả bài thơ và bài hát đều thật tuyệt
     
  8. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    [​IMG]
    Di ảnh nhà thơ Hữu Loan


    MÀU TÍM HOA SIM

    Nàng có ba người anh đi bộ đội
    Những em nàng có em chưa biết nói
    Khi tóc nàng xanh xanh.
    Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
    Yêu nàng như tình yêu em gái
    Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
    Tôi mặc đồ quân nhân
    Đôi giày đinhbết bùn đất hành quân
    Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo.
    Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
    Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
    Lấy chồng đời chiến chinh mấy người đi trở lại
    Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ
    bé bỏng chiều quê...
    Nhưng không chết người trai khói lửa
    Mà chết người gái nhỏ hậu phương
    Tôi về không gặp nàng
    Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
    Chiếc bình hoa ngày cưới
    Thành bình hương tàn lạnh vây quanh.
    Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
    Em ơi giây phút cuối
    Không được nghe nhau nói
    Không được trông nhau một lần.
    Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
    Áo nàng màu tím hoa sim.
    Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
    Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa...
    Một chiều rừng mưa
    Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc
    Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng
    Gió sớm thu về rờn rợn nước sông.
    Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
    Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
    Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
    Có ai ví như từ ca dao nào xa xưa:
    “áo anh sứt chỉ đường tà
    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”.
    Ai hát vô tình hay ác ý với nhau
    Chiều hoang tím có chiều hoang biết
    Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
    Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa:
    “Áo anh sứt chỉ đường tà
    Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...”.
    Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
    tím tình ơi lệ ứa
    ráng vàng ma

    Sừng rúc điệu quân hành
    Vang vọng chập chờn
    Theo bóng những binh đoàn
    Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím.
    Tôi ví vọng về đâu?
    Tôi với vọng về đâu?
    Áo anh nát chỉ dù lâu...

    HỮU LOAN - 1949

    -------------------------------------------------------------------------------------------

    " Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt"

    " Những chiều hành quân, ôi những chiều hành quân tím chiều hoang biền biệt"

    Màu tím của những đồi sim trong chiều hành quân đã gợi cho Hữu Loan một nổi nhớ về người thương, nhớ về quê hương da diết. Đó cũng là tâm trạng của bao thế hệ những người lính ở chiến trường suốt 40 năm sau đó. Lớp lính bây giờ có đi qua những đồi sim thì chắc khó mà có cái tâm trạng như thế vì mọi chuện ở quê nhà đều đã biết qua DTDD [​IMG].

    Vài bài hát nữa mà lứa học sinh của chúng tôi hâm mộ và hay hát là bài :
    -Trường củ tình xưa http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=GQhB2EOJqM
    -Thương về Miền trung http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Bp43kQB1Ja
    - Nổi buồn hoa phượng http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=62zxY3H_yT
     
  9. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    [GLOW]Gởi BQT[/GLOW] : Rất nhiều hình tôi đưa lên đã bị xóa. BQT có cách gì để khắc phục tình trạng này ?
     
  10. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    MỘT LỚP HỌC TRƯỜNG LÀNG THỜI KHÁNG CHIẾN.

    Suốt thời kỳ chiến tranh ác liệt 7-8 năm qua thì toàn xã Phổ Thuận không hề có một cái trường tiểu học nào. Sau Hiệp định Pari thì có hai nơi mở lớp học tự phát. Đó là ở chùa Ông Hạnh – thôn Vùng 4 ,do một số người trốn lính khoát áo thầy tu mở vài lớp trong chùa để dạy trẻ học, thứ hai là lớp học của thầy Hoành ở thôn Thiệp Sơn. Cả hai nơi đều chỉ dạy lớp 1, 2, 3. Lớp 4,5 thì phải đi xuống Trà Câu hay ra Mộ Đức cách xa 5-6 cây số.
    Thời gian này ở thôn Thiệp Sơn quê củ của tôi cũng bình yên. Thôn nằm dưới chân đồi Chóp Vung, trước mặt là đồng trống nên du kích chẳng dám tổ chức đánh địch ở đây, vì không có đường rút. Tuy vậy dân chúng về ở vẫn còn khá thưa thớt, đa số vẫn còn ở nơi tản cư ngoài Mộ Đức, hay Trà Câu ven quốc lộ để tránh đạn pháo, chỉ về làng vào ban ngày để làm ruộng. Mỗi lần về nhà nội, tôi vẫn thường chạy qua xem lớp học ở đây.

    Ông Hoành là người dân trong thôn chứ chẳng phải gốc thầy giáo.Vợ chết trong lần đi biểu tình ngày mồng 1 tết năm 1968 ở Trà câu, ông vẫn ở vậy nuôi 3 đứa con cùng với một mẹ già. Thấy tụi nhỏ không biết học chữ ở đâu nên ông mới mở lớp tại nhà. Trường học là một cái trại làm bằng tre, lợp tranh, bàn ghế cũng làm bằng các miếng tre, chân bàn và chân ghế là những đoạn tre đóng cố định xuống đất. Cả ba lớp 1,2,3 được tất cả mười mấy học sinh và đều học chung một buổi - giống như ở vùng núi hiện nay mà ta gọi là lớp nhô – Các học sinh đa phần là trễ học 3 – 4 năm so với tuổi. Trước lớp học để một cái vò nước lạnh, có một cái gáo dừa để học sinh uống nước.

    Thầy Hoành cũng đã già, người gầy nhom đang cho gà vịt ăn, thì tụi học sinh đến. Tới giờ dạy rồi mà thầy vẫn tiếp tục cho vịt ăn, vì còn chờ những đứa khác tới cho đông đủ. Khi nào học sinh đến sớm thì thầy dạy sớm, đến trễ thì thầy dạy trễ. Cuối tháng thì cũng xếp vị thứ và nhờ ấp trưởng thôn Thiệp sơn là ông Bộ đóng dấu vào bảng danh dự để phát cho các học sinh đứng nhất, nhì trong lớp.
    Lúc học sinh đã vào đông đủ thì thầy mới rửa tay và vào nhà cầm vài quyển sách ra dạy. Những đứa nhỏ lớp 1 thì ngồi ở bàn trên, những đứa lớp 2 ngồi giữa và bàn cuối cùng thì dành cho 4 đứa lớp 3. Thầy cầm phấn chia cái bảng ra làm 3 phần. Đầu tiên thầy ghi lên bảng vài bài toán cho tụi lớp 2 và 3 làm, rồi thầy mới ghi vào phần bảng còn lại vài từ vựng cho các em lớp 1 và hướng dẫn chúng đánh vần. Trong khi tụi nhóc đánh vần ê, a thì có vài đứa con gái lớn phía sau lấy lá giang và bịch muối lận trong lưng quần ra ăn. Lá dang chua làm cái mặt chúng nhăn riết và cười rúc rích. Thầy Hoành vẫn thấy hết mọi chuyện nhưng có lẽ vì bận rộn cầm tay luyện viết cho tụi nhóc và chuyện ăn me hoặc lá dang chắc xãy ra hằng ngày, nên thầy cũng chẳng nói gì. Hướng dẫn hết lượt lớp 1, rồi thầy quay qua giải mấy bài toán cho tụi lớp 2 , 3 . Dưới lớp có đứa loay hoay ghi chép, có đứa thò tay chụp mấy con gà con chạy lung tung trong lớp, Con gà mẹ thấy con kêu liền chạy xồ từ ngoài vào kêu quang quát. Lũ học sinh cười ré lên, tạo thành một âm thanh hỗn độn thật nực cười. Thầy Hoành phải dừng giảng bài, đi xuống đuổi gà ra, la rầy những đứa nghịch ngợm và ổn định lại lớp học.

    Giờ ra chơi, tụi học trò ùa ra sân bắn bi hoặc nhảy dây. Có đứa khát nước thì múc một gáo dừa nước lạnh trong lu tu ừng ực, có đứa lại múc nước đó để rửa những đôi chân trần mốc thích. Có hôm trong giờ học có đứa lại la to.

    - Thúi cứt heo quá thầy ơi !

    Đúng là cạnh lớp học có cái chuồng heo của nhà thầy, nên đôi khi gió chướng hắc vào vẫn nghe mùi khó chịu và thỉnh thoảng bầy heo vẫn la “en ét” vang vào lớp học.
    Chứng kiến một buổi học với bao vất vã của thầy Hoành mới thấy được hết công lao của thầy. Những đứa học trò tinh nghịch, vô tình như thế chắc sau nầy sẽ nghĩ lại càng nhớ ơn thầy. Nếu không có cái lớp học xập xệ, thúi phân heo ấy thì trẻ con ở cái làng heo hút này có mấy đứa sẽ theo được con chữ.

    Khi học sinh ra về hết thì hoàng hôn cũng dần buông xuống. Mọi người trên rẫy, dưới đồng thì ai cũng lo về nhà nấy, trâu bò cho vào chuồng sớm, chúng đứng im, miệng con nào cũng nhai nhai lại thức ăn, mỗi nhà lại cách xa nhau hàng trăm thước, nên chẳng qua lại gì nhau. Xóm làng lại vắng ngắt, buồn tẻ, chỉ có tiếng kêu “quạ, quạ” của bầy quạ trở về tổ trong ánh chiều tà nhập nhoạng. Cô Dư của tôi chẳng biết chơi cùng ai. Lần nào cũng đem dây su ra sân và bảo tôi ở lại để nhảy dây. Tôi thì chẳng mấy khi muốn ở lại với cái không gian buồn bã ấy.

    [​IMG]

    Một lớp học trường làng thời kháng chiến.
    [​IMG]
     
  11. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Đề nghị BQT set tấm hình này làm avatar cho tôi với[​IMG]
     
  12. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Hình ảnh về những lớp học trường làng trong thời kháng chiến nó in mãi trong tôi và làm cho tôi lại liên tưởng đến những cái “Trường điểm” ở các thành phố lớn hiện nay. Trường điểm là một môi trường tốt để ươm những mầm xanh, nhưng có đáng để người ta phải chạy chọt hàng chục triệu cho con em mình vào đó hay không ? và từ khi có trường điểm thì lại dẫn đến chuyện ngược đời là “ Thi vào lớp 1” Trẻ em chưa đi học mà đã đi thi ! Và chuyện chạy trường, chạy lớp là chuyện “ Biết rồi, khổ lắm, nói mãi !”.

    Thời gian này ở thôn Vùng 5, chính quyền bắt đầu xây một ngôi trường tiểu học. Địa điểm nằm sát đường QL1
    Ông Đức là lính Xây dựng nông thôn phụ trách chuyện này. Hàng ngày ông mặc bộ đồ đen, khoát khẩu súng cacbin, cưỡi xe đạp chạy lăng xăng để đôn đốc những người thợ xây. Những đứa trẻ con thì phấn khởi vì chúng sắp được học gần nhà, khỏi phải đi bộ mấy cây số để ra Mộ Đức học. Sau một thời gian xây dựng thì ngôi trường cũng đã hình thành, có 3 phòng quét vôi trắng toát, bên trên lợp ngói, chuẩn bị khánh thành.

    Tối hôm ấy, mọi người giật mình bởi hai tiếng nổ khá lớn trên hướng QL1. Thôi ! Chắc là xe nhà binh chạy ban đêm bị đánh mìn. Ai cũng nghĩ bọn lính trên xe chắc là tiêu đời hết rồi nên không hề nghe một tiếng súng đánh trả nào hết. Sáng hôm sau tôi chạy lên đường cái để xem thử thì thấy không phải xe bị giật mìn mà ngôi trường mới bị nổ mìn cả 3 phòng học tan tành thành đống gạch vụn. Cả một đoạn đường QL trắng xóa những hình vẽ và các khẩu hiệu được viết bằng vôi lấy từ mấy thùng vôi quét tường. Những câu khẩu hiệu như.

    - Đả đảo Đế quốc Mỹ
    - Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ tay sai …
    Viết rất to trên mặt lộ

    Lúc ấy đã thấy có nhiều lính và viên chức chính quyền ngụy đã đứng ở đó. Một người lính đứng trên chiếc xe Lambeta 3 bánh từ trong quận ra, xe vừa chạy chậm lại, anh ta liền vọt xuống. Chẳng may chân vừa chạm xuống đường đụng phải chổ vôi còn ướt, làm anh ta trợt chân quay lộn mấy vòng trên mặt đường, mọi người đứng đó đều cười ồ lên. Vôi trắng dính khắp mặt mũi, quần áo anh ta như một hình nộm. Ai cũng không hiểu tại sao du kích lại giật sập trường học để làm gì ?

    Tối hôm ấy du kích xã Phổ Thuận về rất đông. Mọi người đều lao nhao hỏi về vụ nổ mìn đêm qua

    - Sao trường để trẻ em học, mà mấy ông lại giật mìn ?
    - Nếu xây trường dạy học thì quí quá. Nhưng để ngôi trường thì địch sẽ xây tiếp một cái đồn nơi đây và chúng sẽ cắt đứt con đường qua lại nối 2 vùng đông, tây QL1 thì làm sao cách mạng hoạt động được ?
    Nghe các anh du kích giải thích cũng có lí, nhưng rồi ai cũng tiếc ngôi trường, và lũ trẻ phải tiếp tục đi học ở xa.

    VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

    Việc học hành thì như thế, còn việc sản xuất nông nghiệp thì lúc này người dân có một giống lúa mới năng suất cao hơn hẳn các loại trước đây, đó là giống lúa Thần nông. Trước đây người dân cấy các loại lúa như : Bông rinh, An cựu… Cây lúa rất cao, thời gian sinh trưởng dài ngày, nhưng năng suất thấp. Cây lúa Thần nông thì thân lùn, thời gian thu hoạch ngắn mà năng suất lại cao. Khi thu hoạch, người dân vẫn cắt lúa ôm lại từng đống rồi đập lúa vào một cái bồ. Lần đầu tiên nhà ông ngoại tôi đóng được cái máy suốt lúa chạy bằng máy coler. Khi đem ra đồng sử dụng, ai cũng tới xem và trầm trồ khen ngợi, rồi nhiều người tới thuê để đem về gặt ruộng nhà mình. Sau giải phóng, xăng rất hiếm nên người ta thay máy nổ bởi cái bàn đạp để đạp quay cái guồng suốt lúa. Rồi gần 10 năm trở lại đây thì toàn bộ máy suốt đã được gắn máy nổ trở lại, và cái máy suốt lúa như thế vẫn dùng ở hầu hết các tỉnh đồng bằng ven biển Miền trung hiện nay.


    [​IMG]

    [​IMG]

    Bồ đập lúa và máy suốt lúa
     
  13. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Sáng chủ nhật hôm ấy, nhà ông tôi rất đông người, vì có ông bà Dư và các cậu, dì từ thị xã Quảng ngãi về. Ông Dư là em của ông ngoại tôi, thời chiến tranh ác liệt đã chạy ra Quảng Ngãi và sinh sống ngoài đó, nhưng vẫn về làm ruộng ở quê và nhờ ông tôi trông coi. Sáng nay cả nhà về thăm chơi và thu hoạch lúa. Các cậu thì mang giày, các dì thì mặc những bộ đồ rất đẹp, rất sang trọng và đem theo nhiều thịt cá để nấu ăn trưa nay. Những người đi gặt thì thuê ở trong xóm và đã xuống ruộng từ sớm.

    Đến nửa buổi chiều thì đã gặt xong mấy đám ruộng được mười mấy bao lúa. Mọi người đang ngồi ngoài đồng ăn chiều bằng thức ăn bánh tráng quấn với cá biển và rau muống thì có hai người du kích từ xa đi tới. Một người mang cái túi xách, người kia thì mang khẩu AK. Đến nơi thì người mang túi xách nói.

    - Gia đình ông Dư làm ruộng mấy mùa qua nhưng chưa có đóng thuế, vậy hôm nay chúng tôi đến để thu thuế cho cách mạng

    Đúng là bà Dư mấy mùa qua, khi gặt xong là chở lúa về Quảng Ngãi, nên cách mạng chẳng thu thuế được gì. Hôm nay biết được ngày gặt nên họ ra thẳng ngoài đồng để thu. Gia đình mọi người ở đây mỗi mùa cũng đều đóng thuế ( thường là bằng tiền ) vào những đêm họp mitinh để ban kinh tài của xã chuyển lên trên mua gạo, thuốc tây cho bộ đội và du kích. Sau vài phút ngỡ ngàng bà Dư bèn nói.

    - Tôi ở Quảng Ngãi, không biết đóng thuế ở đâu, nên chưa đóng. Mấy ông cho tôi nộp thuế vụ này thôi, còn các vụ kia, để lại mùa sau được không ?
    - Không được đâu ! Cách mạng đang thiếu gạo, bà phải nộp hết các vụ vừa qua – Người mang túi xách nói.

    Rồi hai người du kích bợ riêng ra 5 bao lúa để trưng thu. Họ lấy viết ra ghi vào tên người nộp lúa và số lượng lúa chứ chẳng có giấy biên nhận gì. Mọi người thồ số lúa còn lại về nhà ông tôi, còn bà Dư thì mặt buồn tiu nghĩu.

    Thời gian trước đó tôi cũng hay thấy những tờ truyền đơn của ngụy tuyên truyền xuyên tạc, vẽ cảnh Việt cộng ra thu lúa của dân ngoài đồng, nhưng thực chất là thu của những người ở vùng địch mà nhiều năm không chịu nộp thuế. Còn người dân ở quê tôi thì ai cũng tự giác đóng góp đầy đủ thì đâu có chuyện xảy ra như vừa rồi.

    Cùng với việc trồng lúa, người dân còn trồng các loại hoa màu khác như khoai mì, khoai lang, đậu phộng và bây giờ bắt đầu trồng lại cả cây mía để sản xuất đường. Đất Quảng ngãi rất phù hợp cho cây mía, trừ những nơi thấp thì làm ruộng, còn nơi nào cũng trồng được mía. Ngày trước xóm nào cũng có lò che để ép đường. Chiến tranh tràn qua khốc liệt, các lò che cũng bị cháy hết, cây mía cũng cháy theo. Thay vào đó là người dân trồng củ mì, củ lang dễ thu hoạch hơn. Bây giờ tình hình cũng tương đối yên ổn, nên có nơi người dân đã trồng mía và mở lại các lò che để ép đường. Nhìn mọi người cười đùa vui vẻ, kẻ thì đánh trâu đi vòng quanh, làm quay các ông che để người khác đút mía cho che ăn nghe rào rào bên canh các chảo đường nghi ngút khói tạo cho ta có cảm giác cuộc sống rất thanh bình no ấm như không hề có chiến tranh ở nơi đây. Hình ảnh đó làm cho tôi liên tưởng đến 2 bài học thuộc lòng nói về quê hương rất hay mà mình đã học hồi lớp 5.

    QUÊ TÔI

    Quê tôi sông nước thanh bình
    Quê tôi mái cỏ lều tranh nghèo nàn
    Quê tôi có dãi cát vàng
    Có con sông nhỏ bắt ngang nhịp cầu
    Trước làng có mấy hàng cau
    Cuối làng có mấy vườn dâu xanh rờn
    Những chiều ráng đỏ như son
    Có buồm căng gió bon bon chạy về
    Có tôm cá chất đầy ghe
    Mặn nồng nghe ý tình quê dạt dào


    QUÊ XƯA

    Từ ngày li biệt quê hương
    Ra đi để sống trên đường tự do
    Nhớ bao kỉ niệm năm xưa
    Bình minh nắng phủ bóng dừa vàng hoe
    Nhà nông vác cuốc đi về
    Thanh bình chim hót bóng tre vươn mình
    Bóng đa cao ngất từng xanh
    Hàng cây nghiêng ngã ẩn mình trong mơ
    Mái tranh ẩn hiện xa mờ
    Từng đàn mục tử trở về cô thôn
    Xa xa những bóng nâu non
    Chợ chiều thôi họp hoàng hôn nhuốm vàng
    Trẻ thơ đón mẹ cổng làng
    Được quà về chợ reo vang vui cười

    THANH TỊNH


    [​IMG]

    Đây là hình ảnh ép mía đơn giản bằng guồng ép nhỏ. Những lò che nấu đường thì thường có 3 ông che bằng gổ to bằng cái thùng phuy, cao khoảng 1m
     
  14. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG CUỐI NĂM 1974

    Cuối năm 1974 thì các lực lượng vũ trang giải phóng của tỉnh Quảng Ngãi đã làm chủ cả vùng rộng lớn phía tây của tỉnh và cả những vùng ven biển ở phía đông QL1. Lính ngụy chỉ giữ được con đường QL1 mà đã chật vật lắm rồi. Ngọn núi Định Cương thuộc huyện Nghĩa Hành nhưng chỉ cách QL1 khoảng 4km. Quân giải phóng đã chiếm giữ trên núi. Suốt mấy tuần liền lính sư đoàn 2 tổ chức tấn công mà vẫn không chiếm được. Hằng ngày đi học ở thị trấn Đồng cát tôi và lủ bạn vẫn đứng trên QL nhìn lên ấy thấy những cụm khói bốc lên do đạn pháo 105 nổ. Có hôm chạy lên sân vận động Đức Tân thấy máy bay trực thăng HU-1A chở thương binh về nườm nượp, nằm la liệt khắp trên bãi cỏ. Sau đó lính ngụy bỏ hẳn núi Định Cương, không dám tấn công lên nữa.

    Khoảng thời gian này chi khu quân sự ở thị trấn Đức Phổ cũng bị quân Giải phóng pháo kích liên tục. Nhưng rất ít khi nào trúng vào chi khu. Những trái đạn 105 li xuất phát từ các ngọn núi ở phía tây chỉ cách vài km, nhưng địch không đủ sức để hành quân lên phong tỏa nơi bắn pháo. Sau ngày giải phóng hỏi lại mấy anh bộ đội huyện mới biết là lúc đó không hề có một khẩu pháo nào trên các ngọn núi ấy, mà những quả đạn nầy gọi là pháo mồi. Tức là đặt quả đạn 105 nằm xiên trên mặt đất, dùng thuốc mồi sao đó mà kích được một lần 2 trái bay đi. Bởi vậy rất khó trúng vào mục tiêu. Một số người dân đã chết vì những trái pháo lạc như thế. Lợi dụng điều ấy ngụy quyền bắt học sinh các trường học đi biểu tình và hô khẩu hiệu “Đả đảo CS”.

    Anh C. lúc ấy là một lớp trưởng bị buộc phải hô khẩu hiệu cho cả lớp hô theo. Sau ngày giải phóng anh trở thành giáo viên và phấn đấu trở thành một đảng viên rồi giữ chức vụ hiệu trưởng của một trường cấp 2. Sau này một người láng giềng với anh, do có mâu thuẩn về việc tranh chấp đất đai,đã viết đơn tố cáo chuyện anh hô khẩu hiệu ngày trước. Huyện ủy cho người đi xác minh điều đó ở những người bạn học cùng lớp với anh ngày xưa, thì đúng là có điều ấy, và ai cũng hiểu đó là trong tình thế bị bắt buộc mà một người lớp trưởng như anh phải làm thế.
    Nhưng sau đó anh vẫn bị khai trừ khỏi đảng và cách chức hiệu trưởng. Anh buồn chí, rồi xin chuyển công tác lên Gia Lai từ ấy đến giờ.

    Ở các xã thì công tác địch vận được đẩy lên cao bằng các hình thức gọi loa, hát các bài hát phản chiến, kêu gọi hòa bình… để tác động vào các binh sĩ trong đồn. Nhiều bà má đã nói thẳng với lính nghĩa quân :

    “Quân giải phóng đã làm chủ khắp nơi, hòa bình sắp đến rồi. Tụi bây lo trốn về nhà, chứ đi lính làm gì nữa”

    Quân địch khắp nơi đều hoang mang lo lắng, những tên ác ôn thì co vòi lại, ở hẳn trong quận, ít khi thấy về xã. Thời gian này cũng không thấy các vụ bắt bớ, đánh đập người tình nghi như những năm trước. Lính nghĩa quân thì ban đêm vẫn nằm im trong đồn không bắn ra một tiếng súng nào, mặc cho bên ngoài bắt loa ca hát các bài hát cách mạng và người dân gõ mõ rầm trời cổ vũ theo tiếng loa. Đó là một điềm báo hiệu cho một làn sóng mới, một trận triều dâng cuốn phăng đi các bót đồn để người dân quê tôi không còn cái cảnh bị bom đạn chà đi xát lại như trong cái mùa hè đỏ lửa.

    MỘT VỤ HÀNH QUYẾT

    Trong khi lính nghĩa quân và ngụy quyền ở địa phương tỏ vẻ lo sợ trước khí thế của cách mạng thì tụi lính sư đoàn 2 lại tỏ vẻ hung hăng. Chúng thường xuyên đi phục kích và tổ chức những đợt tấn công vào vùng du kích. Thôn Mỹ Thuận ở phía nam đường Cái Mới và nằm phía tây QLl. Thôn cách 2 trục đường này mỗi chiều chừng 1km qua 2 cánh đồng trống, là vùng trụ bám của du kích xã Phổ Thuận lâu nay, trong thôn cây cối ùm tùm, đầy mìn bẫy.

    Tôi cũng có đôi lần đứng từ đường Cái Mới để xem lính sư đoàn 2 tấn công vào thôn. Những người lính chạy lúp xúp dưới ruộng bắn những trái M72 vào xóm nghe nổ đì đùng nhưng thấy cũng chẳng có tác dụng gì vì trong ấy có những lũy tre dày cản trở. Còn việc bắn pháo chuẩn bị trước khi tấn công thì cũng rất hạn chế vì lúc nầy đạn dược của quân ngụy không có dồi dào như xưa. Ngược lại du kích trong thôn thì lại thấy rất rõ đối phương nên cuối cùng không có lần nào lính ngụy vào được mục tiêu mà phải kéo lê những xác chết và những người bị thương trở ra đường Cái Mới.

    Một hôm anh Sử là du kích đang ngồi ăn cơm trong nhà vừa bước ra sân thì thấy một người thanh niên lạ bước vào. Chạm mặt nhau khá bất ngờ thì cả hai bên cũng vừa nhận ra là kẻ địch. Hai người lao vào vật lộn với nhau thì một tên khác từ phía sau lao tới tiếp sức và nổ súng bắn chết anh Sử rồi bỏ chạy ra đồng. Thì ra hai tên này là lính sư đoàn 2 mặc đồ savin giả dạng dân đi làm đồng đã đến tận trong xóm mà không ai hay biết. Khi du kích biết được thì chúng đã chạy xa mất rồi.

    Một buổi sáng nọ tôi đang cưỡi xe đạp trên đường Cái Mới để về thôn Thiệp Sơn, đến cách đường xe lửa khoảng 500m thì thấy một tốp lính sư 2 đang đứng trên đường cùng 2 người du kích bị trói tay ra phía sau. Có lẽ chúng vừa mới phục kích bắt được đêm qua. Một chiếc xe Jeep từ trên đồi Chóp Vung chạy xuống thắng cái “két” rồi dừng lại. Tên sĩ quan bước xuống rồi đưa tay đẩy một người du kích và nói.

    - Bước xuống lề đường mau !

    Người kia lừng chừng thì hắn đưa tay rút súng, tay kia xô mạnh làm cho người du kích ngã chúi từ trên mép đường nhựa cao xuống tận mép ruộng. Tôi và lũ trẻ đứng gần đấy kinh hoàng, sợ quá bèn quay xe bỏ chạy lùi ra một quảng xa hồi hộp đứng nhìn. Hai phát súng ngắn từ tay tên sĩ quan nổ chát chúa, mọi người nhắm mắt đưa hai tay bịt lổ tai một lúc lâu mà vẫn chưa dám mở mắt ra nhìn. Kinh khiếp quá !
    Bắn xong hắn đẩy người du kích kia lên xe chở đi thẳng hướng QL1 mất dạng, còn tụi lính thì vác súng đi bộ lên đồi Chóp Vung. Đợi cho bọn lính đi được một quảng mọi người mới chạy lại xem. Người du kích bị bắn từ sau lưng ra trước ngực, nằm gục chết trên mép ruộng, máu thấm đỏ quạch cả một vạt cỏ, một màu đỏ bầm ghê rợn. Ai cũng xót xa trước cái chết của anh và thầm rủa tên ác ôn giết một người tù binh mà không chút ghê tay !
     
  15. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    [GLOW]Xin đính chính[/GLOW] : Phần trên tôi viết nhầm. MỘT VỤ HÀNH HUYẾT xin được sửa lại là : MỘT VỤ HÀNH QUYẾT mới chính xác

    MỘT VỤ GIẢ DẠNG LÍNH SƯ 2 VÀ VỤ ÁM SÁT ẤP TRƯỞNG THÔN THIỆP SƠN.

    Thời gian này những hoạt động rào đường, chặn đánh địch ở QL1 ít hơn hẳn trước kia, thỉnh thoảng mới có một vụ. Mỗi lần xảy ra như vậy thì từ sáng sớm bà con lại quảy ghánh đi rào rào trên QL, tản cư ra Mộ Đức và lính nghĩa quân ở đồn Quán Vịt lại cầu cứu lính địa phương quân trong quận ra giải tỏa.

    Một hôm mới sáng sớm thì thấy lính sư đoàn 2 xuất hiện ở trong xóm. Một người lính kêu mẹ tôi lại để hỏi giấy căn cước, mẹ tôi vội chạy vào nhà cầm ra đưa cho hắn xem. Hắn hạch sách sao hình trong thẻ không giống, có phải giấy giả không …? Tôi nhìn lên nhà bà Thừa, thì cũng thấy có hai tên lính đang hỏi giấy bà. Có chuyện gì mà sao ai cũng bị hỏi giấy thế ? Những khi lính sư 2 đi phục kích vào làng thì thường là đi đông người và trang bị súng đạn nhiều lắm, nào là M.72, trung liên, lựu đạn, bi đông nước .v.v… trông rất là hì hượm. Còn lần này sao chỉ có vài người và chỉ mang AR-15 và chỉ có 1 khẩu M79. Mặc dù người nào trên vai áo vẫn có phù hiệu là số 2 , chân vẫn mang giày lính, nhưng tôi vẫn nhi ngờ đó không phải là lính sư 2 thật sự, và mẹ tôi cũng nghi ngờ như thế, nhưng cũng không hiểu như thế nào.

    Mặc dù nghi nghờ, nhưng đến giờ rồi, tôi phải đi học thôi. Cưỡi xe đạp đi ra khoảng 1 cây số thì bổng nghe ở phía làng mình rộ lên tiếng cối và súng tiểu liên nổ đì đùng một khoảnh khắc ngắn rồi im bặt. Thôi rồi ! Đúng là mấy người lính sư 2 hồi sáng là do du kích giả dạng. Thế nào cũng sẽ có người chết và tôi rất lo lắng cho nhà mình, không biết ông bà và mẹ tôi có kịp chạy xuống hầm hay không ? Trưa hôm ấy, sau khi học xong tôi đạp xe nhanh về nhà thì thấy mấy người lính nghĩa quân và mọi người vẫn còn bàn tán xôn xao về vụ nổ súng vừa rồi. Như thường lệ, buổi sáng, lính nghĩa quân bắt đầu đi từ đồn Quán Vịt ra mở đường. Hôm nay dân không đi tản cư, có nghĩa là không có du kích ở làng. Khi người lính đi đầu cách xóm chừng 20m thì mấy người du kích mới nổ súng và bắn M.79 vào đội hình hàng dọc của lính, nhưng do mất bình tĩnh hay sao mà chẳng có ai thương vong, chỉ có một người lính bị thương do mãnh đạn M.79.

    Vài tuần sau vụ giả dạng lính sư 2 thì một vụ tiếp theo cũng làm cho chính quyền ngụy ở xã Phổ Long ( Phổ Thuận ) kinh hoàng. Đó là vụ ám sát một ấp trưởng. Ông Bộ là ấp trưởng thôn Thiệp Sơn từ năm 1967 đến nay. Thật tình mà nói thì trước đây, khi còn lính Mỹ thì ông ta rất hung hăng. Hắn đã từng ngồi trên máy bay trực thăng để phát loa kêu gọi đồng bào không được tiếp tế cho Cộng sản, mà phải di tản đến các trại định cư của Quốc gia để cách li với Cách mạng. Nhiều người còn nhớ cái câu ông ta thường nói :

    -“Thằng Mĩ không dễ gì nó chịu thua . Nếu yếu thế thì sẽ có lực lượng Đồng minh của nó nhảy vào,chứ chẳng bao giờ nó chịu bỏ Miền Nam đâu !”

    Từ ngày giặc Mĩ rút quân thì ông ta cũng bắt đầu xuống nước và hiền từ hơn. Hằng tôi vẫn hay gặp ông mặc bộ đồ đen, đi xe đạp trên đường Cái Mới để về thôn Thiệp sơn làm công việc như nắm tình hình, kê khai dân số, thực hiện các chính sách về xây dựng nông thôn .v.v…

    Hôm ấy ông Bộ đang đi xe đạp trên đường Cái Mới, phía sau có chở một bao củ lang để trở về nhà ở thị trấn. Đến ngang xóm 28 thì gặp một người thanh niên học sinh mặc áo trắng đứng bên lề vẫy lại và nói.

    - Bác ơi, bác có máy lửa cho con mồi điếu thuốc ?

    Ông Bộ dừng lại vẫn ngồi trên xe đạp và móc túi lấy máy lửa, thì người thanh niên rút súng bắn hai phát đạn vào ngay ngực làm ông ta và chiếc xe ngã chúi xuống mép đường trước sự kinh hoàng của một tốp học sinh đi học cũng vừa về đến đó. Bắn xong, người thanh niên đút súng vào túi quần và băng đồng chạy thẳng ra hướng thôn An Định, đó là vùng của du kích. Mọi người trong xóm chạy ra xem thì thấy viên đạn trúng vào ngay tim làm văng cái hộp đựng con dấu trong túi áo ra ngoài, bao củ lang khô đổ ra rơi vung vãi đầy trên mép cỏ. Mọi người xem một tí rồi lo chạy vội về nhà, không dám ở đó lâu vì sợ mang họa. Một lát sau lính sư đoàn 2 chạy từ trên đồi xuống và cũng có dọa hỏi mấy đứa thiếu niên trong xóm nhưng đứa nào cũng nói là “Không biết gì”. Thực chất có rất nhiều người biết rõ người bắn súng hôm ấy cũng là một học sinh trung học, nhưng chẳng có ai khai ra cả. Mà nếu có ai đó muốn khai thì cũng chẳng dám. Nếu không muốn mình cũng sẽ lãnh 1 phát đạn giống như thế. Thời buổi này mọi người luôn thực hiện khẩu hiệu 3 không: “ Không nghe, không thấy, không biết” là tốt nhất. Đây là vụ ám sát ấp trưởng lần thứ 2 ở xã Phổ Long, lần trước là ông Bình - ấp trưởng thôn vùng 5.

    Cả tháng,sau vụ ám sát thì hầu như chẳng nghe vụ nổ súng nào nữa. Cuộc sống thanh bình thật là dễ chịu. Mùa đông lạnh lẽo đã đi qua, Bầu trời có nhiều nắng ấm. Mọi người hồ hỡi chuẩn bị đón chào một mùa xuân mới.
     
  16. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Phần 5 ( Phần cuối ) NGÀY ĐOÀN TỤ


    MÙA XUÂN TOÀN THẮNG

    Xuân 1975, có lẽ là một mùa xuân vui vẻ và thanh bình nhất trong các mùa xuân đã đi qua thời chiến tranh ở quê tôi. Trước tết và sau tết cả tháng trời mà không khí vẫn yên bình. Năm nay, ngoài cây bông vạn thọ mà hầu như nhà nào cũng có trồng, còn có thêm các loại hoa khác như mào gà, hướng dương, bông giấy… Nhiều nhà còn gắng chạy đi xa để xin một nhành mai về cắm lên bàn thờ cho không khí những ngày xuân thêm ấm cúng.
    Ngoài chợ thì không có bán hoa như bây giờ, nhưng bày bán đủ loại thực phẩm cũng như vật dụng phục vụ cho ngày tết. Năm nay có bán cả những loại nhang khoanh tròn treo trước bàn thờ cháy cả đêm. Trẻ em được cha mẹ sắm cho những bộ đồ, những đôi giày mới, có em gái còn được đánh phấn và thoa son lên môi, cột hai bím tóc nhổng sang hai bên, tay thì cầm nhiều bong bóng xanh đỏ đi chơi xuân bên người lớn, mặt mày vui tươi hớn hở, đôi má đỏ lên trong nắng xuân hồng làm cho ta có cảm giác là các em chỉ biết có khung cảnh thanh bình mà chưa hề thấy chiến tranh bao giờ.

    Đêm giao thừa thì cũng pháo và súng nổ rầm trời nhưng tiếng súng nghe vui chứ không khiếp sợ như giao thừa mọi năm. Chiều mồng 1 tết, tôi và mấy đứa bạn đi xem văn nghệ ở chùa Ông Hạnh tại thôn Vùng 4. Đây là một ngôi chùa có vài lớp học dạy trong chùa. Học sinh mặc đồ phật tử lên biểu diễn những bài hát ngợi ca tình yêu quê hương đất nước, như bài : Lối về xóm nhỏ, Hòa bình ơi … rồi đến cái đoạn múa bướm. Những bé gái đóng giả những con bướm, phía sau mỗi em mang một đôi cánh bướm bằng giấy. Khi co tay làm động tác thì những cánh bướm vẫy vẫy trông thật đẹp mắt. Đoạn cuối buổi văn nghệ có sự tham gia của các anh lính sư đoàn 2 đóng trên đồi Chóp Vung bằng một vỡ hài kịch “Hớt tóc”. Một người ngồi trên ghế, người kia cầm cái kéo ( bằng giấy ) dài gần cả thước, xách cái lược bằng cái bồ cào, rồi lấy cái vá múc canh để ngoái tai …Làm cho mọi người một phen cười nghiêng ngã.

    Trên đài phát thanh Sài Gòn thì phát đi phát lại bài hát “Cám ơn”- Một bài hát khá hay, do ca sĩ Duy Khánh thể hiện, Lũ thiếu niên như tụi tôi thì mấy ngày tết chỉ thích bắn bi và chơi bầu cua ăn tiền hơn là đi chơi xuân. Buổi tối mới đi chơi ở các nhà hàng xóm tới khuya mới về. Một cái tết thanh bình hiếm có từ trước đến giờ.
    Nghe lại bài hát : Lối về xóm nhỏ : http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=cPcsKPq2kJ
    Cảm ơn : http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=0JewEYekvV
    Hòa bình ơi, Việt Nam ơi: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=jpH7nmYzRU

    ĐÊM CUỐI CÙNG CỦA CUỘC CHIẾN TRANH.

    Sau tết, cuộc sống thanh bình như thế cứ tiếp tục. Ai cũng ngạc nhiên sao bình yên kéo dài lâu thế ? Nhưng mọi người đâu có biết rằng cuối tháng giêng năm ấy một đòn sấm sét của quân giải phóng đã giáng xuống Ban Mê Thuộc ( 10-3-1975 ) và sau đó địch đã tháo chạy khỏi Tây nguyên. Nhiều người dân không biết, nhưng lính ở đồn Quán Vịt và lính sư 2 đóng trên đồi Chóp Vung đều biết sự kiện ấy.

    Sáng hôm đó tôi về nhà nội ở Thiệp Sơn để ăn chạp. Ngày ấy giỗ chạp cũng nấu nướng đơn giản, có thịt gà, cá kho, và gỏi đu đủ, ăn với cơm và canh, bánh gói ( bánh dày ) là loại bánh không thể thiếu trong các ngày giổ khi bình yên. Thức ăn được đựng trong những cái dĩa chút xíu và canh thì đựng trong cái tô loe ra giống như cái loa nhưng cũng chỉ được hơn một chén canh. Ngày giỗ thì mới được ăn cơm trong những cái chén màu trắng gọi là chén mỏng và những đôi đũa bằng gổ mun màu đen, đó là những vật quí giá. Ngày thường thì chỉ dùng chén đất màu sẫm và đôi đũa tre. Mọi người ăn uống vui vẻ và bàn luận về cảnh thanh bình lâu dài trong thời gian qua mà tôi đâu biết rằng chiều đó mình bị một trận pháo kinh hoàng sém chết.

    Chiều hôm ấy tôi chơi đến 5h mới ra về cùng hai anh con bác là anh Dưỡng và anh Chánh. Anh Dưỡng đi 1 xe đạp, anh Chánh chở tôi trên 1 xe. Khi về đến xóm 28, định quay vô nhà các anh ở lại đêm thì nghe tiếng loa ở đó phát ra thật to.

    - Hỡi anh em binh sĩ VNCH ! Mặt trận giải phóng đã làm chủ khắp nơi, mọi người hãy buông súng trở về với nhân dân. Toàn Miền nam đã nổi dậy. Hỡi anh em binh sĩ …

    Tiếng loa chỉ nói được vài lần thì từng tràng đại liên trên đồi Chóp vung nã đạn chiu chíu xuống hai bên mép đường. Anh em tôi hoảng quá cưỡi xe chạy thẳng xuống Vùng 4. Khi nãy ra đến đường Cái Mới, tôi vẫn thấy một người lính sư đoàn 2 đang xách nước tắm ở một cái giếng nơi nhà dân, còn ban ngày mà mấy ông giải phóng đã tập trung quanh đây rồi sao ? Bổng “ Ầm, ầm !” pháo 105 từ thị trấn Đồng Cát bắn vào tới tấp. Chúng tôi đạp xe chạy nhanh, một quả đạn nổ chát chúa sáng lòa trước mặt, chỉ cách chúng tôi 7m, mãnh đạn bay rào rào vào mái tôn, nhưng kì lạ thay cả 3 anh em chúng tôi không hề hấn gì, còn xe đạp thì sau này xem lại bị mấy lổ. Cả ba chúng tôi bỏ xe đạp chạy bộ, tôi và anh chánh chạy dạt vào một cái nhà ven đường, những trái pháo khác nổ tới tấp chung quanh, tiếng nổ rung chuyễn mặt đất làm một cái giỏ chiên ( bằng tre ) bay lên cao mấy mét. Hai chúng tôi chạy quanh nhà để kiếm miệng hầm. Kiếm được miệng hầm của nhà đó và chui vào thì đã thấy đông nghẹt người núp trong ấy. Anh Dưỡng thì chạy lạc đâu mất. Tôi lo quá, chắc anh đã trúng pháo chết rồi.
    Bị pháo nhiều lần, nhưng lần nầy vẫn sợ xanh mật. Vì đó là một căn hầm lạ, đơn sơ hơn nhiều so với căn hầm Đờ Cát của ông ngoại tôi. Mỗi lần pháo nổ gần là đất trên nóc hầm lại rơi xuống rào rào. Một người đàn bà ngồi cúi đầu chắp tay trước ngực run rẫy nguyện cầu mà mọi người đều nghe rõ.

    - Xin Cậu Trạng hãy độ trì cứu giúp, hãy lái những trái đạn ra xa căn hầm để cứu mọi người.

    Khi có quả pháo nổ rất gần, thì bà lại nói.

    - Xin Cậu ! Cho nó nổ xịch ra một xíu nữa đi. Cậu Trạng ơi, hãy cứu mọi người.

    [​IMG]

    Một căn hầm tránh pháo

    Sau này tôi mới biết người đàn bà đó là bà Tư. Bà Tư có đứa con trai tên là Trạng đã chết từ bé. Trước đó hơn 1 năm, tự nhiên nghe đồn rằng cậu Trạng đã nhập vào xác bà Tư nói linh thiêng lắm. Người dân trong vùng thường hay đến xin Cậu Trạng ứng lên để hỏi về gia sự, các cô gái thì hay đến để hỏi về đường tình duyên và Bà Tư cũng hành nghề “Lên đồng” từ đó. Tôi cũng nghe nói nhiều chứ chưa gặp bà bao giờ. Hôm nay có bà trong hầm, nhiều người cảm thấy yên tâm hơn. Nhưng sao Bà Tư lại cầu cho trái đạn nổ xịch ra một chút . Xịch ra một chút nữa thì hầm mình an toàn nhưng sẽ trúng vào hầm của những nhà hàng xóm thì sao ? Lúc này pháo vẫn bắn ầm ầm, Nhớ lại khi học tiểu học ở trường TIN LÀNH, cô Luận dạy giáo lí có giảng nhiều lần về việc ta cầu nguyện Đức chúa Trời để được che chở khi gặp những hoạn nạn trong đời. Dù không mấy tin tưởng vào Chúa, nhưng lúc này sợ quá, tôi cũng chắp tay lên trán và lầm rầm đọc những câu nguyện cầu: “xin Chúa che chở cho con”.
    Đợt pháo bắn khoảng 30 phút thì chấm dứt, nhưng mọi người chưa ai dám chui ra khỏi hầm, vì sợ nó bắn tiếp. Chờ một thời gian lâu nữa vẫn không thấy gì, lúc đó mọi người mới chui ra, ra ngoài không khí dễ chịu làm sao. Lúc này trời đã tối hẳn, tôi và anh Chánh chạy nhanh ra đường để tìm anh Dưỡng. Vừa chạy vừa kêu tên anh, chạy rộng ra những nhà hai bên đường thì gặp anh cũng vừa ở căn hầm nhà ông Quảng chui ra và đang chạy tìm kiếm hai đứa tôi. Khi pháo nổ tấp nập thì tôi và anh Chánh chạy dạt vào phía nam, còn anh chạy ra hướng bắc của đường Cái Mới. Ba anh em gặp nhau mừng quá và về lại nhà ông Quảng,ngồi lại đây chờ cho trời sáng.
     
  17. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    [​IMG]
    Trận địa pháo của quân ngụy


    Đêm ấy - mà hơn một tháng sau tôi mới biết đó là đêm cuối cùng của cuộc chiến - Một đêm dài như vô tận, một đêm mà lần đầu tiên trong đời tôi thức trắng. Hai vợ chồng ông chủ nhà cũng thức trắng cùng 3 chúng tôi. Mọi người lo sợ không biết nó còn bắn pháo nữa hay không ? Không ai có đồng hồ nên sau một lúc thật lâu thì không biết lúc này là mấy giờ. Nhìn chân trời phía đông có màu đo đỏ cứ nghĩ rằng bình minh sắp ló dạng, vài lần như vậy mà trời vẫn chưa sáng. Sao mà trời lâu sáng thế nhỉ ? Cuối cùng thì trời cũng sáng hẳn, nghe bên ngoài đường có nhiều tiếng người đi lại, chúng tôi chạy ra đường thì nghe nhiều người nói.

    - Lính đã bỏ chạy hết rồi !
    - Lính ở đồn Quán Vịt chạy rồi à ?, Đồi Chóp Vung vẫn còn lính trên ấy chứ ?
    - Chạy hết rồi !

    Chiều hôm qua tôi vẫn còn thấy một người lính sư đoàn 2 đang đi tắm ở dưới xóm và đêm qua, sau đợt pháo thì chẳng nghe đánh đấm gì nữa. Qua một đêm mà sao thay đổi nhanh thế ? Chúng tôi đi ngược lại chổ quăng xe đạp hồi hôm thì hai chiếc xe vẫn nằm đó, một chiếc bị mấy mãnh đạn vào sườn xe, quả pháo nổ chỉ cách 5-7m bay một vạt bên mép đường nhựa tạo thành cái hố nhỏ như chiếc mủng con. Thật là hú vía. Đêm cuối cùng của cuộc chiến mà chết thì thật là oan uổn lắm. Dựng xe lên để đi về nhà thì thấy một đoàn người đi tới. Ồ ! lính sư đoàn 2, người thì ở trần, người thì mặc quần đùi, người thì mặc áo lính có số 2 trên vai, đi sau là hai người du kích áp tải. Hỏi thăm mấy người dân đi sau thì họ kể rằng đêm qua trên đồi Chóp Vung lính đã bỏ chốt, mạnh ai nấy chạy. Đa số là cởi bỏ hết quần áo lính, bỏ hết súng đạn, chạy loạn xạ băng đồng mỗi tốp 5 – 7 người. Một số thì bị du kích bắt, một số thì đang chạy lạc trốn trong dân.

    Trên đường về nhà, từ đường Cái Mới đến QL1, người dân đổ ra đường rất đông, gương mặt ai cũng hồ hỡi, vui vẻ nói cười kể lại chuyện tháo chạy của lính ngụy đêm qua. Chiều hôm ấy lại nghe tiếp tin ở thị trấn Đức Phổ và thị xã Quảng Ngãi quân ngụy cũng rã ngũ hoàn toàn. Đêm ấy, đêm đầu tiên của ngày giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi ( 24-3-1975 ) mọi người đổ ra đường QL1 như một đám hát. Từng tốp, từng tốp người đi qua đi lại trên đường, từng nhóm, từng nhóm người từ trẻ em, phụ nữ đến cả những cụ già cũng ra ngồi giữa đường lộ bàn luận rào rào chuyện thời sự . Vài ba đêm sau, trên đường QL1 người ta vẫn ngồi chơi đông nghịt như thế. Tôi cùng vài đứa bạn trong xóm lấy xe đạp chạy đi chơi. Lần đầu tiên đi xe đạp ban đêm. Ồ ! trời tối thui mà vẫn cưỡi xe được. Ra tới Mộ Đức, rồi vòng vào Trà Câu, ở đâu cũng thấy nhiều người đi chơi ngoài đường. Một vài điểm có đông dân cư thì tổ chức mitinh mừng ngày giải phóng, cũng có cái bàn với ảnh Bác Hồ và lá cờ Mặt trận với một người cán bộ giải phóng nói chuyện, quang cảnh nhộn nhịp hơn hồi giải phóng năm 1972.

    [​IMG]

    Niềm vui ngày giải phóng


    TỬ HÌNH HAI TÊN ÁC ÔN

    Vài ngày sau, vào một buổi trưa, Tôi đang đi xe đạp đến nghã ba QL1 và đường Cái Mới thì thấy có đông người đang đứng bàn tán chuyện gì đó. Dừng lại thì nghe họ nói du kích vừa bắn chết ông Đỗ Cận ở trong cầu Vinh Hiển. Tôi chạy vào xem thì xác chết đã được khiên đi đâu mất rồi.

    Trước đó hơn 1 năm, có một vụ án làm xôn xao cả huyện Đức Phổ. Ở cầu Bàu thuộc xã Phổ Cường, những người đi làm đồng phát hiện ra một cái bao bố to, đựng vật gì mà cột miệng nổi dập dờ dưới chân cầu, mở ra xem thử thì tá hỏa khi thấy có cái xác của một người con gái nằm trong bao. Cảnh sát ngụy mở cuộc điều tra và đã tìm ra thủ phạm là ông Đỗ Cận. Vào khoảng những năm 1966 -1967, khi vùng giải phóng được mở rộng, cách mạng đã chiếm lấy một số ruộng công điền của chính quyền ngụy để cho du kích xã canh tác lấy lương thực nuôi quân. Tên Cận lúc đó đã làm tay sai cho giặc. Khi đến kỳ thu hoạch, hắn thuê người lên gặt lúa ở một số ruộng ấy. Sau đó du kích ban đêm đã đột nhập vào nhà và bắt hắn. Đợt đó ngoài tên Cận ra cũng có bắt được vài tên lính dân vệ cùng đem lên giam giữ tại Bình Mỹ. Sáng hôm ấy, các tù binh phải mài rựa để chiều chuyển lên cứ trên núi đi lao động cải tạo. Trưa đó, các tên lính dân vệ đều bị trói tay, tên Đỗ Cận cũng đã có tuổi và không phải là lính cho nên không phải trói. Mấy người cán bộ khác thì bận đi công tác một lúc, chỉ có một mình anh Sữu là du kích xã cầm súng canh gác. Do chủ quan và bị sốt rét nên anh Sữu nằm gác tay lên trán lim dim. Tên Cận thấy thế liền quơ ngay cây rựa bổ từ trên xuống, lưỡi rựa mới mài bén quá nên cánh tay bị đứt lìa, phạm xuống tới mặt. Anh Sữu rú lên và do quá bất ngờ, những tên lính bị trói tay cũng kinh hoàng, la ó lên inh ỏi. Tên Cận cầm rựa lao ra chạy thẳng một mạch xuống tới QL1, chạy vào trong quận báo cáo thành tích rồi ở luôn trong đó, chẳng dám về xã. Mọi người lao đến thì hắn đã chạy xa.

    [​IMG]

    Ông Sữu ( tại nhà ông ở thôn Thiệp Sơn ) bây giờ ít muốn nói về sự kiện kinh hoàng ngày ấy và muốn dấu cái tay cụt


    Năm 1968, bộ đội tấn công vào thị trấn bị thất bại. Hai người bộ đội kéo thương binh và xác của đồng đội lạc vào vườn nhà hắn ở sát chi khu, thấy thế hắn ném lựu đạn ra làm những người còn sống cũng chết luôn. Sáng hôm sau hắn vào quận lỵ báo công vơ cả thành tích về cho mình. Đợt đó hắn được thưởng huân chương “Anh dũng bội tinh”. Từ ngay có huân chương hắn lại càng thêm tự đắc, xem thường luật pháp, tay càng thêm nhúng vào máu. Vài năm sau, tên Cận có một người con gái đã có chồng là một sĩ quan ngụy và ở chung nhà với hắn. Trong nhà còn có cô cháu bên vợ của hắn ở trọ. Thấy cô cháu gái trẻ đẹp, nên người con rể ấy cứ theo quan tâm săn đón. Sợ rằng thằng rễ theo cô kia mà bỏ rơi con gái mình, nên vào một đêm, tên Cận đã giết chết cô cháu gái bằng một mãnh ván chẹn ngang cổ cho nghẹt thở. Hành sự xong, hắn cho vào bao bố chở đi thật xa, ném xuống cầu để cho dòng nước trôi ra biển, nhưng rủi thay gặp chổ nước xoáy, cái bao bố xác người ấy quần trở lại và bị phát hiện, cộng thêm việc tên sĩ quan con rễ bị mất tích người tình, nên cũng đâm ra tố cáo hắn, rồi hắn bị cảnh sát bắt ra tòa án và chịu án tù ngoài nhà lao Quảng Ngãi. Ngày giải phóng an ninh huyện đã ra tận nhà lao để bắt hắn về.

    Mặt dù đã biết có chính sách khoan hồng của cách mạng, nhưng cùng ngày hôm ấy du kích xã Phổ Thuận đã tử hình tên Đỗ Cận ở tại cầu Vinh Hiển và tên Dương Giỏi tại cầu Chợ Chiểu vì hai tên nầy có quá nhiều nợ máu với nhân dân. Còn tên xã trưởng Lương Hoàng cũng có nợ máu, nhưng ít hơn nên chỉ đi học tập cải tạo một thời gian rồi về. Năm 78 - 79, trên đường đi học tôi vẫn đi ngang qua nhà ông Lương Hoàng, không thể nào nhận ra ông ấy được. Từ một người to lớn, mặt lúc nào cũng đỏ gay, hét ra lửa, mà bây giờ như một gã xì ke, hằng ngày đứng xay bột cho vợ tráng bánh. Vài năm sau do thối chí và mặc cảm tội lỗi nên ông cũng mất sớm. Còn hiện nay, những lần đi họp gia đình liệt sĩ tôi vẫn gặp bà X. . Lúc đầu nghe mấy người nói đó là vợ của ông Dương Giỏi, tôi rất ngạc nhiên.

    - Ủa ! Vợ của tên ác ôn Dương Giỏi mà sao lại đi họp và lãnh tiền phụ cấp liệt sĩ ?

    Thì ra đây là bà vợ sau của ông Giỏi và có hai con trai với ông ta. Bà X. đời chồng trước có một cô con gái tham gia du kích và đã hy sinh nên bây giờ bà vẫn hưởng trợ cấp của người con liệt sĩ ấy.
     
  18. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    Phần 5 : NGÀY ĐOÀN TỤ ( tt )

    Vài ngày sau cái đêm kinh hoàng cuối cùng của cuộc chiến tranh trên quê hương, tôi nghe trên đài phát thanh và nhiều người bàn tán về những tin chiến sự ác liệt ở Đà Nẵng. Rồi Đà nẵng cũng được giải phóng ( 29-3-1975 ).
    [​IMG] Quân giải phóng tiến vào Đà Nẵng

    Khoảng một tuần sau thì xe ô tô của quân giải phóng ở trên đường Trường Sơn bắt đầu đổ xuống QL1 nườm nượp. Xe ô tô, xe pháo, xe tăng đủ loại , xe nào cũng đầy nhóc bộ đội, trên xe cắm thật nhiều cây lá ngụy trang. Ô kìa ! lạ thay, xe nào cũng chỉ có 1 con mắt ( 1 đèn pha ). Nhiều khi cưỡi xe đạp đi ban đêm cũng sém bị xe một mắt này tông, vì cứ nghĩ cái con mắt đang sáng ấy là ở phía gần bên mình nên chỉ đi cách nó khoảng 1-2m. Sau này tôi mới hiểu là trên tuyến đường Trường sơn bị địch đánh phá ác liệt nên chẳng có xe nào còn đủ hai mắt cả. Dòng xe trên QL1 hầu như chỉ có một chiều xuôi về nam.

    Hàng ngày trên đài Hà Nội và Sài Gòn, Đài phát thanh Giải phóng, Đài BBC liên tục đưa những tin tức nóng hổi về chiến sự, nghe cả một bài diễn văn dài của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu từ chức với lời lẽ uất ức kết tội đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ rơi VNCH. Tin quân Giải Phóng đã làm chủ Qui Nhơn, Tuy Hòa , Cam Ranh …
    Khoảng giữa tháng 4 – 1975 thì trên đường QL1 xuất hiện nhiều chiếc xe rất dài, mỗi chiếc xe chỉ chở một trái hỏa tiển to khủng khiếp. Ai nhìn cũng lo sợ cho một trận chiến tàn khốc ở Sài Gòn. Mẹ tôi nhìn những trái đạn khổng lồ ấy thì cứ chép miệng lo lắng cho số phận của chị tôi và bà con trong ấy. Ở Sài Gòn không có hầm hào thì khi đạn pháo nổ biết chạy trốn ở đâu ?
    [​IMG]
    Nữ biệt động Nguyễn Trung Kiên đẫn đường cho xe tăng vào giải phóng Sài Gòn

    Một buổi trưa , nghe nhiều người la lên .
    - Sài Gòn đã giải phóng rồi !
    - Nghe tin ở đâu thế ?
    - Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh

    Tin thức giải phóng sài gòn cư thế lan truyền hết người này đến người khác. Mọi người chạy đến nhà nhau để báo tin, cùng bàn luận sôi nổi. Những nhà có radio thì vặn hết cỡ cho mọi người cùng nghe tin tức từ Sài Gòn. Từ em bé đến các cụ già, gương mặt ai cũng ngời ngời phấn khởi. Hòa bình đã đến vĩnh viễn rồi, không còn sợ cảnh bom đạn nữa rồi. Vui quá ! Chưa có một ngày nào vui hơn hôm nay ! Ngày 30-4-1975 lịch sử.
    Chiều tối ngày hôm đó và suốt mấy ngày hôm sau đài Hà Nội liên tục phát đi bài hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và bài hát “Bảo nổi lên rồi”. Lời nhạc của hai bài hát bừng bừng khí thế của ngày vui giải phóng, một ngày vui thống nhất mà phải trải qua 30 năm máu lửa, hôm nay mới có được.
    - Bài hát : Bảo nổi lên rồi http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=NjNX3h2KyS

    [​IMG]
    Quân trang của lính ngụy vứt bỏ khi tháo chạy
    .
    Hòa bình rồi, nhưng trên đường QL1 từng đoàn xe quân sự vẫn chở bộ đội xuôi vào nam suốt cả tháng sau đó. Tháng sau thì từng đoàn xe đò chạy ngược lại từ nam ra bắc, trên trần xe chở đủ thứ, nào là bàn ghế, giường tủ … của những người dân hồi hương về quê quán. Chị tôi và các cô cũng đã về, Mợ Chín và các em từ Plieku cũng trở về nhà ông ngoại tôi. Mợ kể lại cảnh tượng kinh hoàng trên đoạn đường Plieku – Phú Bổn trong cuộc triệt thoái khỏi tây nguyên của quân đoàn 2 ngụy. Cảnh xe tăng cán nhào cả lên xe jeep, xe nhà binhh cán bừa cả lên người dân để tháo chạy. Một mình mợ với 4 đứa con sợ quá đành quay lại. Nếu hồi đó chạy tiếp thì mấy đứa nhỏ có khi đến bây giờ vẫn còn mất tích. Còn cậu Chín là sĩ quan thiết giáp lúc đó đang đi học ở Đà Lạt, không biết bây giờ ra sao. Một người cậu Út của tôi là sĩ quan Hải quân cũng chẳng biết tin tức gì.

    Mấy ngày sau, mẹ và các anh chị em tôi dọn nhà trở về quê nội ở thôn Thiệp Sơn. Về đây trước tiên là che một mái tranh để nghỉ tạm, dẫy cỏ tranh xung quanh bắt đầu một cuộc sống mới. Nhiều người từ Sài Gòn cũng đã chuyễn đồ đạc về trên nền nhà củ với cỏ tranh ngút ngàn. Từ đây tôi đã thấy những cuộc đoàn viên đầy cảm động.

    Cô Dòm, từ trên núi trở về với một bộ đồ bộ đội và một cái ba lô để gặp lại người mẹ già. Sau 6 năm cô bặt tin, mọi người tưởng cô đã chết rồi. Những người từ Miền bắc cũng lần lượt trở về, lần đầu tiên tôi mới biết được cái từ “ Tập kết”. Ông Sáu nhà ở kế bên vườn nhà tôi trở về sau 21 năm và đã gặp lại anh Thưởng là người con trai đầu với người vợ trước. Mẹ của anh đã mất trong chiến tranh. Bao năm côi cút rồi đi theo du kích xã, bây giờ anh đã gặp cha. Cha anh mang về thêm sáu người em cùng bà mẹ kế. Thời gian đầu bà Sáu lên rẫy thường mang đứa con út trên vai, làng xóm ai cũng nhìn bà chăm chăm, nực cười khi thấy cái hình ảnh như vậy. Trước khi về nam, gia đình ông Sáu ở Tuần Giáo – Lai Châu cho nên có tục lệ giống phong tục của người thượng ở miền tây Quảng ngãi. Sau đó thấy hơi khác người ở đây nên bà sáu không địu con trên lưng nữa.

    Trưa hôm đó, có một người đàn ông đội nón cối, mặc aó trắng, mang túi xách, chân đi đôi dép giống như dép cao su nhưng bằng nhựa, tìm đến nhà ông nội của tôi. Ông bà tôi ngỡ ngàng, cố nhớ lại xem thử là ai.

    - Cậu mợ không nhận ra con sao ?
    - Thằng Ba Cài đó phải không ?
    - Dạ ! Cậu mợ vẫn mạnh giỏi, Các chú, các cô thế nào hả cậu ?
    - Trời ơi ! 21 năm rồi, tao tưởng chẳng khi nào gặp lại tụi bây

    Ông tôi nắm chặc tay người cháu – Người anh con bà cô của ba tôi, mà bây giờ tôi mới được biết - Giọng ông nghẹn ngào, không nói nên lời, kéo tay bác Ba Cài ngồi xuống thềm nhà và kể lại chuyện chiến tranh máu lửa ở quê hương trong 21 năm qua, kể lại chuyện cái chết đau đớn của ba tôi và bác Hai tôi. Kể lại chuyện gia đình của bác bị bắt chụp hình li khai với cộng sản, trong chiến dịch “Tố cộng”của Mỹ - Diệm . Kể lại chuyện chị ruột của bác Ba là cô Lược bị chết trong hầm do giặc Mỹ ném lựu đạn, mà suốt 4 ngày sau khi Mĩ rút đi, mọi người mơí về khui hầm ra chôn vội vàng trong tiếng pháo ầm ì, khi cái xác đã phân hủy. Kể đến đây thì cô Sáu – em ruột của bác Ba Cài – nghe tin người anh trai về, đã chạy từ đồng đến nhà nhào vô ôm lấy bác Ba khóc nức nở. Hai anh em gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, rồi bác lại nghẹn ngào khi hay tin người mẹ của mình đã chết từ năm 1971. Mấy ngày trước, mỗi khi ăn cơm cô Sáu cũng thường hay khóc vì người chồng lính ngụy chạy loạn ở Đà Nẵng đến bây giờ vẫn bặt tin. Hôm nay cô lại khóc vì vui mừng được gặp lại người anh trai sau 21 năm dài đằng đẵng.

    Thời gian này ở trên khắp Miền nam có biết bao nhiêu cảnh đoàn tụ trong nước mắt như thế. Có nhà thì được đoàn tụ sum vầy sau nhiều năm li loạn bởi chiến tranh, cũng có nhà thì li tán , mất tích do chạy loạn khi quân giải phóng mở cuộc tổng tấn công . Nhưng dù trong mất mát riêng của mỗi gia đình thì ai cũng xem đây là ngày đoàn tụ , một ngày đoàn tụ lớn của cả dân tộc,nam bắc đã một nhà, núi sông đã liền một dãy. Một ngày vui thống nhất sau 30 năm .
     
  19. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    [​IMG]

    Nhân dân sài Gòn đón chào quân giải phóng - ngày 30-4-1975


    Ngày đoàn tụ là ngày vui lớn nhưng cũng có khi lại gặp những nghịch cảnh éo le. Có trường hợp người vợ nghe tin người chồng đi thoát ly của mình đã chết, sau đó ghá nghĩa với người chồng mới là lính ngụy. Ngày thống nhất, người chồng củ trở về thì trên danh nghĩa cả hai người đều là chồng . Trường hợp này thì thật là khó xử. Bộ phim “Về nơi gió cát” khởi chiếu những năm đầu sau giải phóng đã phản ảnh đúng những tình huống trớ trêu có thật trong ngày đoàn tụ ở Miền nam cũng như ngay trên quê hương của tôi.

    Hôm ấy là một buổi liên hoan mừng ngày gặp lại của gia đình bác Ba Cài. Anh chị em chạy loạn chiến tranh ở Sài Gòn cũng đã hồi hương đầy đủ. Những người bà con nội ngoại cũng được mời đến khá đông. Từ sáng sớm những người phụ nữ đã lo đi chợ, nấu nướng, Bác Ba thì lấy mực viết trên tấm vãi trắng dòng chữ:

    - Mẹ ơi ! Chúng con đã trở về.

    Rồi cột lên đầu một cây nêu ( đoạn tre dài có lá ) đem cắm lên phần mộ của người mẹ đã mất trong chiến tranh. Người vợ củ của Bác hôm ấy xách theo một xách bún cũng về dự họp mặt. Vừa vào đến nhà thì mọi người cũng niềm nở chạy ra mời chào.

    - Ồ ! Chị Ba mới về

    Bác Ba gái mới cũng mới từ Hà Nội về hôm trước, đang ngồi trong nhà thấy thế liền nổi cơn ghen lên rồi nói.

    - Chị Ba gì mà nắm ( lắm ) chị Ba thế ?

    Nói rồi nghoe nguẫy đứng dậy, mặt đỏ bừng bỏ đi một mạch vào nhà hàng xóm nằm nghỉ. Mọi người chạy theo khuyên giải thế nào cũng chẳng thèm ra dự đám tiệc. Bác Ba cũ thì ở lại dự tiệc nhưng cũng chẳng vui vẻ gì. Chỉ có Bác Ba trai là kẻ đứng giữa nên khó phân xử nhất. Thôi thì mọi chuyện éo le nầy có ai gây ra đâu, tất cả đều do chiến tranh gây ra cả. Qua cuộc chiến mà còn sống để gặp lại nhau dù chỉ một lần thì cũng là điều đáng quí lắm rồi.
     
  20. Lamson81

    Lamson81 Member

    Bài viết:
    411
    Đã được thích:
    15
    Ðề: " Kí ức tuổi thơ máu lửa "

    CHUNG TAY XÂY DỰNG LẠI XÓM LÀNG.

    Mùa hè năm 1975, một mùa hè hòa bình thật sự vĩnh viễn trên toàn cõi đất nước Việt Nam. Giờ đây hầu hết mọi người đã về quê củ và cùng nhau bắt tay xây dựng lại quê hương sau những năm dài bị chiến tranh tàn phá. Hòa theo không khí đó, ở xã Phổ Thuận quê tôi cũng bắt đầu hồi sinh từ những làng quê hoang tàn đổ nát. Dưới trời nắng như đổ lửa của mùa hè, nhiều người đang khuân vác những vật dụng như bàn ghế, giường tủ từ trên xe đò xuống, Một số người đi tập kết, đi thoát ly cũng đã về, những anh lính ngụy rã ngũ ở các nơi cũng tìm về quê và được chính quyền gọi đi học tập 1-2 tuần tại xã.

    Công việc đầu tiên là mọi người “đi núi”. Tức là lên dãy Trường sơn chặt những cây to về làm nhà. Nhà ai cũng làm một kiểu giống nhau, sườn chống đỡ toàn bộ căn nhà là cái giàn xương phương. Giàn xương phương là một cái khung như hình hộp chữ nhật, gồm 4 cây cột, 2 cây trính, 2 cây xiên gắn cố định với nhau bằng lỗ mộng. Trên giàn xương phương là các bộ kèo, đòn tay , tạo ra 4 mái để lợp tranh hoặc lợp tôn. Bên ngoài bao quanh nhà người ta dựng những cây gỗ nhỏ lớn hơn ngón chân cái gọi là cây mầm để chống đỡ các đầu kèo, nối các cây mầm vòng quanh nhà là các cây trĩ bằng miếng tre chẻ nhỏ tạo lưới ca rô để trét đất lên ấy làm vách tường.