Thông tin sơ lược
Diện tích: 5.135,2 km2
Dân số: 1. 285. 728 người(2005), chiếm 1,6% dân số của cả nước
Dân tộc: Kinh, Hrê, Cơ-ho, Xơ Đăng…
Tỉnh lỵ: TP Quảng Ngãi
Bao gồm: TP Quảng Ngãi và 13 huyện. Trong đó có 1 huyện đảo: Lý Sơn; 6 huyện đồng bằng: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ; 6 huyện miền núi: Ba Tơ, Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long
Vị trí
Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải miền Trung, tựa vào dãy Trường Sơn hướng ra biển Đông. Bắc giáp Quảng Nam. Nam giáp Bình Định. Tây giáp Kontum. Đông giáp biển với chiều dài 129km. Ngoài khơi có đảo Lý Sơn và một số đảo nhỏ khác. Tọa độ địa lý trải dài từ 14°32′ đến 15°25′ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ Đông. Tỉnh nằm trên trục quốc lộ 1A, cách Hà Nội 883km, cách thành phố Hồ Chí Minh 838km.
Địa hình
Tỉnh có địa hình tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển, phía Tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển, đồi núi chiếm phần lớn diện tích, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp (trừ đồng bằng thuộc hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ).
Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, nên nhiệt độ cao và ít biến động. Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình năm trên 25oC. Lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm (giai đoạn 1991 – 2002), tập trung từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau (chiếm 70 – 80% lượng mưa cả năm); bình quân 4 năm có một cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi. Tổng lượng bức xạ lớn thuận lợi cho việc phơi sấy; sử dụng năng lượng mặt trời trong công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản, làm muối và sản xuất điện năng (năng lượng gió).
Sông ngòi
Trên địa bàn tỉnh có 4 con sông lớn chảy qua. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Cầu. Ngoài ra, còn có nhiều nhánh sông nhỏ là phụ lưu và chi lưu của các con sông chính. Sông ngòi ở Quảng Ngãi đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở phía Tây và chảy ra biển Đông. Đặc điểm chung của các con sông là dòng chảy ngắn, độ dốc cao, lòng sông cạn và hẹp, dòng chảy mạnh, nên về mùa mưa thường gây ra lũ lớn. Về mùa khô thì nước sông rút nhanh, lòng sông cạn, giao thông thuỷ khó khăn. Tuy nhiên sông ngòi cũng mang lại cho tỉnh một lượng phù sa và nguồn thuỷ năng đáng kể.
Tài nguyên thiên nhiên
Đất
Quảng Ngãi có 9 nhóm đất chính là: cồn cát, đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, đất giây, đất xám, đất đỏ vàng, đất đen, đất nứt nẻ, đất xói mòn trơ trọi đá. Trong đó, nhóm đất xám có vị trí quan trọng (chiếm 74,65% diện tích đất tự nhiên) thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và nhóm đất phù sa thuộc hạ lưu các sông (chiếm 19,3% diện tích đất tự nhiên), thích hợp với trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu… Đất Quảng Ngãi có thành phần cơ giới nhẹ, hơi chặt, thích hợp với trồng mía và các cây công nghiệp ngắn ngày.
Rừng
Năm 1999, diện tích đất rừng toàn tỉnh là 102,1 nghìn ha, trong đó: diện tích đất rừng tự nhiên 67,4 nghìn ha, diện tích trồng rừng 34,7 nghìn ha. tỷ lệ che phủ của rừng mới đạt 27,6% ( cả nước 33,2%, duyên hải miền Trung là 34,5%). Rừng Quảng Ngãi phong phú về lâm, thổ sản với nhiều loại gỗ như: trắc, huỳnh, đinh hương, sến, kiền kiền, gụ, giồi…Trữ lượng gỗ khoảng 9,8 triệu m3. So với các tỉnh trong vùng duyên hải miền Trung, vốn rừng tự nhiên của Quảng Ngãi rất ít, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo. Song, so về trữ lượng (tính trên 1 ha) thì trữ lượng các loại rừng của Quảng Ngãi cao hơn mức trung bình của cả nước.
Khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản không đa dạng về chủng loại, chủ yếu là khoáng sản phục vụ cho công nghiệp vật liệu xây dựng, nước khoáng và một số khoáng sản khác. Những khoáng sản có thể khai thác trong 10 năm tới là: graphít trữ lượng khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cho phép đưa vào khai thác 2,5 triệu tấn, hàm lượng cácbon trung bình 20%, có nơi 24% nằm trên địa bàn huyện Sơn Tịnh; silimanhit trữ lượng 1 triệu tấn, phân bổ ở Hưng Nhượng (Sơn Tịnh); than bùn ở Bình Phú (Bình Sơn) trữ lượng 476 nghìn m3; cao lanh ở Sơn Tịnh trữ lượng khoảng 4 triệu tấn. Đá xây dựng gồm các loại đá làm vật liệu xây dựng, rải đường giao thông, áp tường, lát nền, trữ lượng trên 7 tỷ m3, phân bố ở Đức Phổ, Trà Bồng và một số huyện khác; nước khoáng ở Thạch Bích (Trà Bồng), Đức Lân (Mộ Đức), Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa) và Sơn Tịnh.
Lịch sử hình thành và phát triển
Theo các tài liệu chính sửa của các triều đại như: Đại Việt sử ký toàn thư 1479 của Ngô Sĩ Liên, Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú….thì vùng đất Quảng Ngãi từ trước CN thuộc bộ Việt Thường, cực Nam của nước Văn Lang. Thời Bắc thuộc, từ năm 201-111 trước CN, đất Quảng Ngãi thuộc huyện Tượng Lâm, một trong 5 huyện của quận Nhật Nam. Cuối đời Đông Hán năm 192, viên Công Tào huyện Tượng Lâm là Khu Liên, nhân trong xứ có loạn, giết quan huyện lệnh, tự lập làm vua, dựng nước Lâm Ấp. Từ đây, đất Quảng không thuộc về nhà Hán nữa mà thuộc Chămpa. Đời Tuỳ, vua Tùy Dương đế Đại nghiệp năm đầu, bình định Lâm Ấp, chia làm 3 châu Quảng Châu, Xung Châu, Nông Châu sau đổi quận Hải Âm; đời Đường đổi thuộc Sơn Châu; đời Tống (960 – 1278) thuộc Cổ Luỹ động của Chiêm Thành.
Năm 1402, Hồ Quý Ly sai Hồ Hán Thương đem quân đi đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm thất bại đành cắt đất dâng cho Hồ Quý Ly. Sau khi thuộc về nhà Hồ, đất Cổ Luỹ được chia thành hai châu là Tư và Nghĩa. Sau khi nhà Hồ thất bại, Chiêm Thành thừa cơ hội đem quân lấy lại đất. Tháng 11 Hồng Đức nguyên niên, tức năm 1470, vua Lê Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, chiếm kinh đồ Trà Bàn, tổ chức lại việc cai trị châu Tư và châu Nghĩa. Năm Hồng Đức thứ 2, tức năm 1471, hai châu Tư và Nghĩa được nhập thành phủ Tư Nghĩa, thuộc xứ Quảng Nam.
Năm Hoằng Định thứ 5 (1604), đổi phủ Tư Nghĩa thành Quảng Nghĩa phủ đặt chức tuần vũ, khám lý nhưng cũng thuộc Quảng Nam dinh. Tây Sơn đổi là trấn Quảng Ngãi. Năm 1832 Minh Mạng đổi là tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1899, tỉnh Quảng Ngãi gồm một phủ Tư Nghĩa kiêm lí huyện Chương Nghĩa và các huyện Mộ Đức, Đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh. Hồi đầu thế kỷ 20, lập thêm châu Ba Tơ và đồn Minh Long, sau đổi là huyện Minh Long. Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh gồm 10 quận.
Sau 1975, nhập với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình. Ngày 30/6/1989, tách tỉnh Nghĩa Bình, tái lập tỉnh Quảng Ngãi.
Văn hoá
Quảng Ngãi là tỉnh có nền văn hoá lâu đời. Tại đây, người ta đã phát hiện ra di chỉ đầu tiên của nền văn hoá khảo cổ Sa Huỳnh. Trên địa bàn tỉnh còn lưu lại nhiều di tích văn hoá Chăm. Bên cạnh các di tích lịch sử văn hoá nơi đây còn lưu truyền nhiều truyền thống lễ hội đặc sắc như: lễ cúng Cá Ông, lễ hội đua thuyền, hát sác bùa, hát bả trạo..bên cạnh các làng văn hoá dân tộc.
Quảng Ngãi còn là quê hương của nhiều danh nhân, trí thức. Vào thế kỷ thứ 18, Nguyễn Cư Trinh đỗ hương tiến đầu tiên. Theo sau, cách 80 năm Trương Đăng Quế đỗ cử nhân (1819) và Nguyễn Tấn là tiến sĩ đầu tiên năm 1843 của tỉnh. Tỉnh Quảng Ngãi trội về quân sự và tinh thần cách mạng với Tả quân Lê Văn Duyệt, Trương Định, Trương Quyền, Nguyễn Bá Loan, Phạm Kiệt, Trần Quý Hai, Trần Văn Trà, Phạm Văn Đồng, Bùi Tá Hán, Trần Đức Lương…bên cạnh những nhân vật khác, kẻ tốt, người xấu như Nguyễn Duy Long, Trương Quang Đản, Trương Đăng Quế, Lê Trung Đình, Bùi Tá Hán, Nguyễn Tiến Huyên, Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Bá Nghi, Phan Văn Tuyển, Trần Văn Độ, Nguyễn Thân.
Kinh tế
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong thập kỷ này và sẽ hình thành khu kinh tế Dung Quất nối liền với khu kinh tế mở Chu Lai. Đây là lợi thế rất quan trọng, tạo điều kiện để tỉnh phát triển nhanh công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp đi kèm theo chương trình phát triển lọc dầu của quốc gia, đồng thời góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Cơ cấu kinh tế năm 2005 như sau: Nông lâm ngư nghiệp: 34,8%, Công nghiệp – xây dựng: 30%, Dịch vụ: 35,2%. Trên địa bàn tỉnh có các khu Công nghiệp: Quảng Phú ở TP Quảng Ngãi, khhu công nghiệp Tịnh Phong thuộc huyện Sơn Tịnh, khu công nghiệp Phổ Phong thuộc huyện Đức Phổ và khu công nghiệp Dung Quất ở phía Bắc huyện Bình Sơn.
Giao thông
Quảng Ngãi có tuyến quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam chạy qua tỉnh. Quốc lộ 24 nối Quảng Ngãi với Kontum và hạ Lào, đây là tuyến giao thông quan trọng đối với Kontum và Quảng Ngãi trong quan hệ kinh tế, văn hoá giữa duyên hải và Tây Nguyên, giao lưu trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế miền núi gắn với an ninh quốc phòng. Phía Bắc tỉnh, tại huyện Bình Sơn có sân bay Chu Lai đã đưa vào hoạt động, tại đây có cảng nước sâu Dung Quất.
Du lịch
Quảng Ngãi là vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá lâu đời như khu du lịch văn hoá Sa Huỳnh, dấu vết văn hoá cổ xưa như thành cổ Châu Sa, Bàn Cờ, Hòn Vàng. Bên cạnh đó tỉnh còn nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: Ba Tơ, Sơn Mỹ, Ba Gia, Trà Bồng, Vạn Tường; nhiều cảnh đẹp đã đi vào thơ vịnh như Thiên Ấn niêm hà, Thiên Bút phê vân, Thạch Bích tà dương, Cổ Luỹ cô thôn; có suối nước khoáng: Bình Hoà, Thạch Trù, Thạch Bích.
Quảng Ngãi có 129 km bở biển, kéo dài từ mũi Nam Châm đến mũi Kim Bồng. Địa hình bờ biển khá đa dạng, đoạn giữa (từ mũi Ba Làng An đến mũi Sa Huỳnh), bờ biển tương đối bằng phẳng với những bãi cát, động cát chạy dài theo mé biển. Phía Bắc (từ mũi Nam Châm đến mũi Ba Làng An) và phía Nam (từ mũi Sa Huỳnh đến mũi Kim Bồng) bờ biển khúc khuỷu với nhiều mũi đá nhô ra biển, chia cắt bờ thành nhiều vũng, vịnh lớn nhỏ. Đặc biệt, có vũng Dung Quất thuộc vùng biển huyện Bình Sơn hội đủ điều kiện để xây dựng cảng biển nước sâu lý tưởng. Biển, bờ biển và hải đảo Lý Sơn là một tiềm năng vô cùng quý báu để phát triển loại hình du lịch biển-đảo, góp phần tạo nên sự đa dạng của hoạt động kinh doanh du lịch, thu hút trong và ngoài nước.
Phong cảnh miền ven biển Quảng Ngãi thật tuyệt vời, với 5 cửa biển chính (Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Luỹ, Mỹ Á, Sa Huỳnh) thuận lợi cho thuyền bè đi lạin và giao thương hàng hoá. Làng ven biển rợp bóng dừa, những rặng phi lao, dừa nước mênh mang xanh, nối liền đồng muối trắng, dải cát vàng. Các bãi tắm Khe Hai (Bình Sơn), Mỹ Khê (Sơn Tịnh), Minh Tân (Mộ Đức), Sa Huỳnh (Đức Phổ) đã và đang thu hút ngày càng đông những người đi tắm biển, dạo xem phong cảnh.
Đặc sản
don
bánh nổ
bắp Sông Trà
dưa hấu Bình Sơn
chim mía

Give a Comment