Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 2: Căn hầm bí mật ở Thiệp Sơn
· 20 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 2/23, thuộc Phần 1 – Ngôi làng không bình yên. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Trở lại ngôi làng nhỏ không bình yên của tôi. Hôm ấy địch bắn pháo vào làng làm ông Tư bị thương nhẹ ở cánh tay, còn cụ H già lẫm cẩm sợ quá lấy cái nong che lại. Khi gia đình chạy về thấy cụ nằm chết dưới cái nong. Cán bộ thôn huy động một số phụ nữ đi đấu tranh.
Mẹ tôi và bác dâu của tôi khiêng bà H. Còn ông già Tư thì đi bộ đến gần đồn rồi nằm lên võng cho 2 người phụ nữ khác khiêng vào đồn. Lúc đó trời cũng đã xẫm tối. Khi vào đến cổng đồn tên lính gác hỏi:
– Các bà khiêng người đi đâu đó?
– Các ông bắn pháo vô tội vạ vào làng làm chết người dân vô tội, yêu cầu các ông giải quyết
Tên chỉ huy đứng gần đó vội chạy lại giở mền trên võng bà H. xem thì đúng là bà đã chết máu me vẫn còn đầy mình, đến võng ô. Tư hắn cũng giỡ ra xem và rờ thử tay chân sao thấy còn ấm, hắn liền véo mạnh vào mặt ô. Ông Tư đau quá la lên:
– Ối đau quá!
– Á! Ông già nầy muốn chết hả – thằng nào bày đầu ra chuyên đấu tranh đây?
Nói xong hắn giựt súng của tên lính gác làm một băng chỉ thiên lên trời
Ông Tư vội nhảy ra khỏi võng bỏ chạy, các bà cũng vội khiêng bà H. băng đồng chạy về. Thật một phen hú vía.
Đồn Mĩ trên đồi Chóp Vung
Lúc này bọn Mĩ đã về đóng quân trên đồi Chóp Vung. Đồi chóp vung là một cụm 3 ngọn đồi cao nặm giáp giữa 2 xã Phổ Thuận và Phổ Phong, cách QL1 3km, Mĩ đóng quân trên đó sẽ khống chế cả một vùng rộng lớn. Làng tôi ở dưới chân đồi, nằm giữa 2 gọng kiềm trên đồi là Mĩ, dưới quốc lộ là đồn lính ngụy nên cán bộ, du kích hoạt động hết sức khó khăn
Một buổi sáng mĩ cũng đến bất ngờ. Chú Cố** (là du kích – du kích khi ấy vẫn mặt đồ như dân thường) trong nhà vừa bước ra đã gặp mĩ vào đến sân, hoảng quá chú nhảy qua bờ rào, tên Mĩ hô: Vi xi- Vi xi, và quất theo một loạt đạn khoảng cách chỉ 10m mà không trúng. Chú chạy qua đám ruộng, tên mĩ liên quì xuống. Mọi người trong nhà đều nhìn theo khiếp vía- vì khi mĩ đã quì thì bắn chính xác gần như 100%. Chú chạy ngoằn ngoèo hình chữ chi, tên mĩ bắn hết cả băng đạn mà vẫn không trúng. Những tên khác chạy đến cũng bắn tiếp theo, nhưng kì lạ thay không viên nào trúng và chú chạy xa vào trong xóm Bờ Bạn, nơi ấy lính mĩ chưa dám đến khi chỉ một ít tên.
Giặc mĩ kéo về đóng đồn trên núi Chóp vung ngày càng đông. Ban đêm thấy đèn đỏ của chúng trên đỉnh đồi nhấp nháy, thỉnh thoảng chúng lại bắn hỏa châu sáng rực cả một góc trời. Hỏa châu để trong súng gì không rõ khi bắn nghe cái ” Tủn ” là thấy đèn sáng rực lên cháy sáng vàng như đèn tròn, phía trên là chiếc dù đk khoảng 6 tấc. Hỏa châu cháy và theo dù bay đi, cháy tới đâu thì phía trên tạo thành những vệt khói ngoằn nghoèo, đến gần sát mặt đất mới tắc hẳn.
Trường làng cũng dẹp hẳn, thầy giáo Hẳ** tham gia du kích rồi sau đó cũng hy sinh.
Mỗi tối nằm trong hầm mẹ tôi, chị tôi lại dạy chữ cho tôi, ban ngày ở nhà tôi lấy một thanh tre quơ qua quơ lại mặt sân đất cho phẳng rồi bẻ một cọng chổi cau (chổi làm bằng cọng của lá dừa khô) tập viết trên đó. Đặc biệt là tôi rất thích vẽ, vẽ đủ thứ: nào là nhà cửa, làng xóm, nhưng thích nhất vẫn là vẽ cảnh chiến tranh, vẽ tên lính mĩ đội mũ sắt cao lêu nghêu tay cầm súng dài. Nhờ năng khiếu thích vẽ từ ngày xưa đó mà sau này có thời gian tôi mở tiệm vẽ chân dung, chứ chưa bao giờ học qua một lớp học vẽ nào.
Căn hầm bí mật
Việc cảnh giác càng được chú trọng hơn nhưng vẫn xảy ra một chuyện hết sức thương tâm.
Hôm ấy ông Chí** và Ô. Ma* là 2 cán bộ cơ sở của thôn đang ở nhà ông Ma* cách đường xe lữa khoảng 100m. Trên đường xe lữa có một con đường nhỏ vào xóm, phía trước là cánh đồng. Gần đường xe lữa, chổ đầu đường cái dẫn vào xóm là nhà cô Hi**. Một số phụ nữ ngồi đó làm công việc may vá, chằm nón, đồng thời làm luôn công việc cảnh giới. Vì bị đường xe lữa ở phía tây che chắn nên lính mĩ trên đồi đi xuống không ai hay, đến khi đi ngang nhà mấy phụ nữ mới thấy. Cô Hi** liền giơ tay chào và nói lớn:
– Hello, Hello!
Tên mĩ đưa tay lên môi trừng mắt nói: – no!
Tiếp theo sau tên thông dịch chỉ tay vào mọi người nói vừa đủ nghe: – im ngay!
Mọi người tái mặt không dám nói thêm câu nào. Nếu bình thường thì 2 người cán bộ kia đã nghe thấy, nhưng oái ăm thay lúc đó 2 ông đang dã gạo, còn cô Rớ* em ô. Ma* thì đang sàng lọc gạo ra khỏi cám những cối gạo đã dã xong. Không một ai hay biết gì việc mĩ đang đến gần. Khi tên mĩ bước tới sân thì cũng là lúc nó và ô. Chí** thấy nhau.
Ông Chí** la lên: – Mĩ!
Ô. Chí**, Ô. Ma* quăng chày, và cô Rớ* hốt hoảng chạy ra sau chui vào hầm tránh pháo.
Tên mĩ cũng la lớn: – Vi xi, Vi xi!
Các tên đi sau vội vàng chạy tới bao vây căn hầm. Tụi mĩ trăm xí lô, xí là gì đó rất lớn, tên truyền tin thì cầm máy gọi liên tục. Tên thông dịch dòm vào miệng hầm la lớn:
– Ai ở trong hầm chui ra ngay!
Trong hầm cô Rớ* nói thì thầm:
– Chết rồi hai anh ơi. Bây giờ làm sao đây?
– Thôi, em ra ngoài đi! Tụi anh có lẽ hôm nay phải chết rồi – Ô. Ma* nói và đưa tay đẩy cô Rớ* về hướng miệng hầm.
– Sợ lắm anh ơi! Em ở lại đây có gì thì cùng chết với hai anh.
– Không được đâu! Em là phụ nữ, chúng không giết em đâu, còn tụi anh có ra hàng thì chúng cũng giết. Ra ngay đi!
Lúc này bọn mĩ kéo đến rất đông, tiếng xì xồ bên ngoài thật nhiều, tên thông ngôn thì la lớn:
– Các người ra hàng đi! Nhanh lên không tao ném lựu đạn vào!
Ông Chí** và Ô. Ma* ra sức đẩy cô Rớ* ra, cô lại khóc và bò lại
Ô. Ma* lại nói: nhanh lên đi em, anh van em, ra ngay đi
– Nhanh lên em! Kẻo chết cả 3 bây giờ
Cuối cùng cô Rớ* phải bò ra. Khi ra khỏi miệng hầm tên thông ngôn dí súng vào người cô.
– Còn tên nào dưới hầm nữa không?
– Còn hai người anh của tôi
– Gọi chúng lên!
– Các anh ấy không dám lên
Tên thông ngôn nói gì đó với tên mang máy truyền tin. Tên truyền tin gọi cho ai đó có lẽ là chỉ huy của hắn. Nhiều người trong xóm chạy đến đều nín thở theo dỏi lo lắng cho số phận của 2 người trong hầm.
Một lát sau một tiểu đội lính mĩ vũ trang đầy đủ kéo đến. Chúng đặt một quả mìn lớn ở miệng hầm rãi dây điện ra xa xong chúng dí súng vào mọi người bảo chạy ra xa. Ai nấy hoảng sợ chạy dạt ra xa. Một tiếng nổ long trời lỡ đất phá banh căn hầm bay toàn bộ đất đắp và tà vẹt đường tàu ra xa vung vãi khắp vườn. Nổ xong tụi Mĩ vội chạy lại xem xác việt cộng, nhưng kỳ lạ thạy không hề có một vệt máu hay xác 2 người ấy ở đâu.
Một tốp lính mĩ chạy đi lùng sục các vườn lân cận, một lát sau chúng bắt Ô. Đ* và và Ô. M. tới. Tên thông ngôn chạy ra sau tìm được một cái cuốc, đồng thời một tên mĩ lấy cái xẻng mang theo bên hông và đẩy 2 người đó đến nền hầm xong ra hiệu bảo đào xuống.
Hai người run rẫy cào nhẹ trên mặt đất. Tên mĩ dơ súng bảo đào mạnh xuống. Ô. Đ* đào thêm vài nhát thì cả 2 Ô. hoảng hốt nhận ra mái tóc, 2 Ô. vội quay ra hướng khác đào thật mạnh lấy đất đổ lên chổ củ, được một lát đã đủ sâu thì ra hiệu cho tụi mĩ là không thấy gì. Tên mĩ ngồi gần sinh nghi bắt 2 ông moi lại chỗ củ lên. Ô. Đ* và Ô. M. tái mặt run rẫy cầm cuốc đào lại chổ củ rất chậm chạp. Tên mĩ càng nghi ngờ bắt đào nhanh lên. Thôi. Thế nào 2 người đó cũng đã chết rồi, hai Ô. vội cào đất rộng ra hai bên, tìm lại chỗ đầu tóc và moi dọc theo xác người. Mấy tên mĩ đã thấy xác v.c cùng ồ lên la ó, và tụi mĩ cùng chạy tới trằm trồ. Người đầu tiên tìm được là Ô. Ma*. Xác Ô. Chí** cũng sát bên, cả 2 Ô. đều ở tư thế ngồi Ô. Đ* và Ô. M. tiếp tục cào đất dọc theo xác 2 Ô. Tụi mĩ xúm lại kéo 2 xác chết lên, Cả 2 đều bị sức ép của chất nổ mà chết chứ không hề có một vết máu nào trên người. Vợ ô. Ma*, cô Rớ* chạy tới ôm xác 2 ngừoi kêu khóc thãm thiết.
Thì ra trước đây Ô. Ma* đã đào hầm bí mật ngay dưới nền đất trong một ngách cuối của hầm tránh pháo, vì nghĩ rằng lính mĩ chẳng bao giờ dám chui xuống hầm để tìm, nếu chúng ném lựu đạn xuống thì mình an toàn. Nhưng nghiệt ngã thay hôm đó chúng lại dùng mìn.
Tên Chỉ huy nói gì đó vói tên Mĩ đứng cạnh. Xong tất cả tụi mĩ dí súng vào mọi người lên đạn và khoát tay ra hiệu bảo đi xa. Mọi ngừoi dang ra xa rồi nhưng chúng vẫn dí súng đi tới lùa mọi người đi hết ra khỏi khu vườn đến các nhà lân cận. Mọi người kinh ngạc không hiểu chúng làm gì nữa đây, chợt thấy một tên lấy trong ba lô ra một chiếc hộp và 2 tên nữa kéo 2 chân ô. Ma* giở lên, tên kia cầm chiếc hộp đẩy vào phía dưới lưng Ô. Ma* rồi kéo Ô. Chí** nằm sát lại.
Thôi rồi. Chúng còn nổ mìn cả người chết sao? Mọi ngừoi ù té chạy nhanh ra xa thêm nữa. Một tiếng nổ rung trời, còn lớn hơn tiếng nổ lúc sáng làm vách đất các nhà lân cận rớt xuống từng mãng.
Xong xuôi tụi mĩ lục tục kéo nhau lên đồi. Mọi ngừoi ùa chạy tới. Một hố sâu hơn cả hố pháo 105. Xác 2 người chẳng thấy đâu. Chạy tìm thấy xác Ô. Chí** văng xa hàng chục mét, đứt nguyên cả một cặp giò vắt còn dính trên bụi tre, còn xác ông Ma* thì tan nát chẳng thấy đâu. Tiếng la khóc vang dậy cả xóm. Vợ Ô. Ma* bò lê lết dưới đất nhặt từng miếng thịt, mọi người đều chạy khắp vườn và bắt thang lên bụi tre gỡ lấy từng miếng thịt nhỏ vắt vẽo trên đó xuống. Tìm kiếm mãi đến chiều mà xác Ô. Ma* chỉ gom được một mũng diễn thịt. (Mũng diễn là loại mũng nhỏ dùng để hốt lúa – đường kính khoảng 40cm)
Tội ác của giặc mĩ đã lên đến cực điểm. Mỗi khi kể lại ai cũng kinh hoàng. Riêng cô Rớ* đến bây giờ vẫn ở một mình không có chồng con trên nền nhà củ hương khói cho ông bà và anh trai trong một căn nhà tình nghĩa được xây cách đây 5 năm với giá 7 triệu đồng. Dù đã hơn 75 tuổi, mắt mờ lòa nhưng chuyện cái ngày kinh hoàng đó cô vẫn nhớ từng chi tiết nhỏ.
Phải làm gì đây? Chẳng lẽ để giặc mĩ tàn sát bà con mình mãi hay sao?
Lời kể thêm sau bốn mươi năm
Sáng nay Lamson vào thăm cô Rớ*, được cô bổ sung thêm một chi tiết vào cái ngày nổ mìn kinh hoàng đó.
Khi nổ mìn lần 2 xong Bọn mĩ chưa đi mà bắn chết 2 con heo của cô và đốt nhà. Lửa đang cháy rần rật, một tên mĩ xách một gàu nước rồi bảo một số phụ nữ đem ra mỗi người một cái chén ăn cơm múc từng chén nước hắt lên chữa lửa. Cô Rớ* vừa khóc vừa phải làm cái công việc kỳ quặc đó. Còn tụi mỹ thì ngồi cười ngoặt nghoẻo. Chưa hết. Khi nhà đã cháy sắp tàn, ai nấy đều lấm lem, Chúng bắt chúng bắt cô Rớ*, bà Đ (đang bụng bầu) và cô Q. cởi hết quần áo. Một tên mĩ xách nước xối lên người các cô bắt kì cọ, còn tốp lính mĩ kia thì ngồi gần đó xem, chỉ trỏ và cười hô hố. Thật là một hành động man rợ và kì quặt chỉ có ở lính mĩ.
Sáng hôm sau cô Q. (lúc đó chưa có chồng) xấu hổ quá bỏ đi Sài gòn biệt tích.
Sau này học bài thơ ” Nghe tin em vào đại học ” của nhà thơ Giang Nam, tôi thấy giống y như cảnh của làng tôi khi ấy
“… Đồn giặc bủa vây thôn xóm điêu tàn
Trường giặc đốt rồi còn lại mảnh trăng
Giữa hai trận càn anh dạy em học chữ
Nét than đen vẽ lên tường gạch đỏ… “
Giang Nam còn được viết chữ lên tường gạch, chứ làng tôi lúc đó ai có nhà tường đâu. Nhà tranh vách đất hoặc nhà giàu thì nhà ngói vách đất. Vách làm bằng những miếng tre ngang dọc rồi lấy rơm đạp với đất nhão đem trét lên rồi tô cho láng bên ngoài để che rơm ở bên trong.
Trường làng tôi cũng bị pháo bắn cháy. Anh chị tôi nghĩ học, Tôi thì được mẹ và chị tiếp tục dạy chữ và các phép toán cộng, trừ vào ban đêm trong căn hầm với chiếc đèn hột vịt và một cây bút chì với một quyễn vở nhàu nát. Ban ngày thì với cái sân đất và cọng chổi cau, nào là viết chữ, làm toán, nào là vẽ hình máy bay, xe tăng,…
Trời đầy máy bay Mĩ
Thời gian này (khoảng năm 1967) máy bay Mĩ sao mà nhiều thế! Chúng bay như chuồn chuồn. Nào là máy bay phản lực bay rất cao, phía sau có một vệt khói dài, máy bay Hai thân như cái bừa xốc ruộng, máy bay Moranh còn gọi là máy bay Bà già, bay rất thấp chậm rề rà như bà già, thấy rõ từng cái bánh xe dưới bụng, Tàu rọ thì giống như chiếc trực thăng HU-1A nhưng có lồng kính phía trước thấy rỏ 2 tên phi công ngồi bên trong. Loại tàu rọ này nguy hiểm lắm, chúng bay đi tìm kiếm bắn chết hoặc bắt sống người. Thấy ai tình nghi nó rà lại ngay trên đầu thả thang dây xuống, hai tên mĩ đứng trên máy bay chỉa súng đại liên ra hiệu bảo ngừoi bị bắt bước lên thang dây. Phụ nữ thì có khi chúng bắt đem đi, có khi chúng lại ra hiệu cởi truồng gữa đồng cho chúng xem, rồi bay đi.
Một hôm, tôi nghe ngoài ngõ ồn ào, mọi người chỉ trỏ cái gì trên trời. Tôi liền chạy ra xem thì Ô kìa! Trên trời có 3 chiếc Sâu róm (Máy bay 2 chong chóng C120) nó bay trên trời cao, chầm chậm nhìn xa 2 cánh quạt nhấp nhá gống như con sâu róm. 2 Chiếc đi đầu câu dưới bụng 2 chiếc xe tăng M113, còn chiếc đi sau, ngộ chưa! Dưới bụng là một cái túi lưới bên trong có một con bò to, 4 chân bò lọt qua lỗ lưới quẫy quẫy trên không trung trông thật vui mắt.
Trong hoàn cảnh như thế, không hiểu chị tôi vẫn học ở đâu được nhiều bài hát CM về dạy lại cho tôi, mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ được một vài đoạn như:
“Chiều nay tôi đứng trên Trường sơn
Lòng tràn đầy vui sướng mùa lúa thơm dạt dào
Dòng sông đưa nước về xuôi
Theo bóng nương ngô cùng bồng con phất cờ…”
Sau này mới biết đó là bài hát ” Vui mùa chiến thắng” của nhạc sĩ Văn Chừng.
Hoặc là bài ” Em đố mẹ em “
” Em đố mẹ em Mĩ rơi bao máy bay?
Em đố mẹ em đếm trên đầu ngón tay
Mẹ bảo nhiều thôi không sao em đếm được
Máy bay giặc Mĩ nó rơi hằng ngày
Mùa mía, lò đường, mẻ cốm
Người chết thì cứ chết, người sống vẫn phải làm việc.
Hằng ngày dân làng vẫn đi gặt lúa hoặc lên gò phát mía, xới củ… Gặt lúa thì đập trong Cái Bồ đan bằng tre vây kín 3 mặt, cao 2,5 m, rơm phơi ra thẳng hàng, 2 ngày sau khô rồi cuốn lại và ghánh về cho trâu bò ăn. Những khi phát mía thì tôi thích nhất, được theo và tha hồ ăn mía. Chú tôi bắt đầu tập xóc mía và ghánh. Nhưng kìa! Mọi người đều ghánh 2 bó mía nằm ngang, còn chú thì hai bó mía lại dựng đứng. Ai cũng cười ồ.
– Ủa? Mầy đi bán chiếu phải không T.? Ông tôi cười hỏi
– Sao con cũng xóc vậy mà nó không chịu nằm ngang.
Chú đi được một quãng thì bó mía vướng vào một bụi cây, sút ra, ông tôi phải chạy đến xóc lại rồi đặt lên vai cho chú
Chú tôi chưa biết xóc mía nên khi ghánh lên đầu nặng quay xuống giống như mấy người đi bán chiếu. Muốn cho bó mía nằm ngang thì phải canh ngay giữa bó và xóc đầu nhọn của đòn xóc chẻ vào giữa 1-2 cây mía thì khi giở lên bó mía mới nằm ngang và ghánh đi dễ dàng không bị vướng vào bờ bụi.
Nhà ông tôi có một lò nấu đường dựng ở dưới lùm tre. Dưới lùm tre dựng 3 ông che, mỗi ông che là một đoạn gỗ hình trụ cao khỏang 1m2, Đk 5 tấc, phần trên đẽo thành răng cưa làm nhông. 3 ông che đặt cạnh nhau đứng cố định sao cho các nhông ăn khớp. Ông che giữa phía trên nối ra một tay đòn bằng gỗ dài nằm ngang, đầu kia của đòn gỗ được mắt vào vai con trâu hoặc bò. Tôi được phân công cầm roi lùa bò đi vòng tròn để ông che giữa quay tròn kéo theo 3 ông che đều quay. Những người lớn thì ngồi trong cái vòng tròn ấy cho che ăn mía. Mía được đưa vào kẻ giữa của 2 ông che, mía bị ép nghe rào rào thích lắm. Thỉnh thoảng có người khác đánh bò tôi cũng nhảy vào cho che ăn mía. Xác mía ép xong dùng để đốt lò.
Nước mía được múc vào thùng đem đổ vào chảo nấu. 3 chảo nấu to bằng gang được đặt trên lò nấu xây bằng gạch. Nước mía ép ra cho vào chảo thứ nhất nấu sôi, vớt bọt bỏ đi rồi cho vào chảo thứ hai nấu tiếp, rồi lại vớt bọt. Chảo thứ 2 nấu xong gọi là nước chè hai. Múc nước chè hai đang nóng để uống thì ngon tuyệt. Mùi mía thơm, nước nóng vừa uống sẽ làm tan biến bớt nhọc nhằn. Nước chè hai đổ vào chảo thứ 3 nấu cho keo lại thành đường. Khi đường vừa tới (vừa chín) thì múc đổ vào muỗng. Muỗng đường làm bằng đất nung hình phểu. Đáy phểu có lỗ để rút mật. Khoảng 3 ngày thì đường cứng lại dùng dao đục ra từng miếng. Miếng đường màu nâu, đem ra chợ bán hoặc để ăn dần. Công việc nấu đường phải có thợ nấu thì đường mới keo lại được và miếng đường mới sáng, mới thơm ngon.
Khi múc đường ra muỗng thường thì thường múc ra nhiều chén, tô… Để ăn và cho người quen, gọi là đường dẽo. Đi làm về nắng nóng được tô đường dẽo, cầm đũa dích lên ăn, vị ngọt của đường như thấm vào từng khúc ruột. Bây giờ không ai ép đường thủ công nữa nhưng mỗi khi nhắc lại đường dẽo thì cũng chảy nước bọt đấy.
Đến mùa thu hoạch củ mì, đậu phụng, Cả nhà quây quần bên nồi củ mì gòn nấu chung với đậu phụng nghi ngút khói. Đến mùa gặt, lấy một ít lúa tươi để giã cốm. Mẹ tôi thì rang lúa, chị tôi cùng cô Hi** cầm chày giã thật nhanh, đến nữa hiệp thì dừng lại, tôi cầm sẳn cái vá trộn lên và bỏ vào một ít muối và hai chị tiếp tục giã đến khi hạt lúa dẹp lép mới thôi. Đem thứ đó đi sàng sãy hết vỏ trấu là thành cốm. Mọi người cùng ăn cốm, nói chuyện. Hạt cốm thơm lừng mùi lúa mới, nhai nghe rào rào trong miệng thú vị làm sao.
Những công việc, những niềm vui nho nhỏ đó nhưng lại là niềm hạnh phúc lớn lao giúp gia đình tôi cũng như những người dân trong làng tiếp tục sống trong máu lửa của cuộc chiến tranh mà chẳng biết khi nào mới kết thúc.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 1. Ngôi làng không bình yên
Tập sau: Tập 3. Hố rác trên đồi Chóp Vung
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


