Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 4: Đêm đánh đồn và những lá thư tìm thân nhân liệt sĩ
· 17 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 4/23, thuộc Phần 1 – Ngôi làng không bình yên. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Gần sáng hôm sau, khi đang ngủ thì tiếng nói lao xao của mẹ tôi và anh chị làm tôi thức giấc.
– Gần sáng rồi mà sao vẫn còn nổ dữ vậy hè? – chị tôi nói
– Đồn Chợ Chiểu chúng làm kiên cố lắm. Súng nổ cả tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa dứt.
Tôi vùng dậy chạy ra sân, nhìn qua cánh đồng thấy ánh chớp sáng lòe kèm theo nhiều tiếng nổ to nhỏ của các loại súng làm rung chuyển màn đêm yên tĩnh. Thỉnh thoảng lại có tiếng nổ lớn và ánh chớp lại lóe lên.
Trời Ơi! Các chú bộ đội mà tôi gặp đêm qua bây giờ đang ở chổ vùng lửa đạn đó sao? Có ai bị sao không? Tôi thầm mong không ai bị việc gì.
Trời đã sáng hẳn. Chị tôi chạy ra ngoài đường, một lát chạy vào la lớn:
– Mẹ ơi! Ra mà xem, dưới đồng có nhiều người khiêng võng lắm.
Mẹ và anh em tôi chạy ra, lúc đó trong xóm cũng có nhiều người đi ra đường đứng đó. Nhìn xuống cánh đồng có nhiều bộ đội đi lên cùng với nhiều người dân khiêng thương binh, tử sĩ đi tới.
– Thôi rồi! Bộ đội của mình sao chết nhiều thế kia
– Súng nổ nhiều quá mà sao không chết được – Mọi người bàn tán.
Chiếc võng đầu tiên do hai người đàn ông đã khiêng tới. Trong võng là một chú bộ đội mặt trắng bệt nằm như ngủ trên ngực loang lổ máu. Một người bộ đội khác mang một túi xách (có lẽ là y tá) lăng xăng chạy theo. Tiếp theo sau là mừoi mấy chiếc võng nữa cũng do những người dân khiêng (là dân công hỏa tuyến) đi đến. Ai cũng bu lại xem. Có chú nằm trên võng rên la quằn quại, có người chết nám đen.
Những người chết thì họ khiêng thẳng ra phía sau làng tôi, những người bị thương đem đặt trước sân nhà ông tôi. Có 5 người thương binh được đặt xuống. Có một chú luôn miệng rên la:
– Mẹ ơi! Đau quá! Khát nước quá cho tôi miếng nước
Anh tôi liền chạy đi múc một gáo dừa nước mang tới. Người y tá đưa tay ngăn lại, nói:
– Không được!
Tôi đứng đó thấy xót xa cho chú thương binh quá và thầm trách người y tá sao không cho chú ấy uống nước. Người y tá thì lăng xăng chạy qua chổ người này, chổ người kia. Bổng một ngừoi dân công la lên:
– Ôi! Anh ấy chết rồi!
Mọi người đổ dồn về chổ ấy thì thấy người thương binh đòi uống nước khi nãy đã chết, đầu ngoẻo sang một bên, da trắng bệt, bên hông máu vẫn ra nhiều quá.
Lúc này bộ đội từ dưới đồng đi lên nhiều lắm cùng với những võng khiêng tòng ten. Ngừoi nào cũng phờ phạt và sạm đen, có người băng trắng toát trên đầu vẫn tự đi. Úi chà! Tôi sửng người khi thấy có người chết nằm trong võng mà vẫn còn gói cơm vắt chưa ăn. Trời ơi! Chẳng lẽ vắt cơm mẹ tôi gói đêm qua? Không ai biết được, nhưng chắc chắn đó là gói cơm vắt của dân làng tôi, vì gói cơm vẫn gói bằng lá chuối và cột bằng nhiều dây chuối.
Một người có lẽ là chỉ huy nói với Ông Th. và bà Tù**.
– Trận nầy ta không chiếm được mục tiêu. Anh em thương vong nhiều quá. Nhờ các anh chị ở địa phương chôn cất các tử sĩ, đơn vị tôi phải rút nhanh đi kẻo máy bay.
Nói rồi họ lần lượt đi thẳng về hướng tây. Tôi nhìn theo các chú mà lòng thương cảm vô cùng.
Sau đó những người dân công hỏa tuyến cùng với nhiều người trong làng đem nilon gói các tử sĩ lại và hối hả đem chôn phía sau làng.
Trái bom bên cống xe lửa
Trưa hôm đó có một chiếc Moranh bay lượn trên bầu trời làng tôi – Chúng dòm ngó thứ gì thế nhỉ? Bộ đội giờ này có lẽ đã đi xa. Bổng nó vòng trở lại bắn một trái mù xuống con mương gần đường xe lửa.
– Thôi rồi! Nó bắn mù để thả bom đó – Có ai đó la lên như thế.
Mọi người chạy vội về hầm. Chỉ một phút sau một chiếc phản lực lao tới. Tiếng phản lực gầm thét và kèm theo 2 tiếng bom nổ rung chuyển cả mặt đất. Sau đó tiếng máy bay cũng xa dần. Mọi người chui ra khỏi hầm nhìn thấy cột khói bay lên ở chổ bắn mù khi nãy. Đó là một đoạn suối nhỏ chảy từ núi Chóp Vung về làng chui qua cái cống xe lửa chỉ có nước vào mùa mưa, hai bên suối là cây cối um tùm. Rất may. Hai trái bom đều rơi vào đó, cách khu vực nhà dân vài trăm mét.
Khi yên tỉnh trở lại. Ông X. là người đi làm về ngang khu vực nổ bom đầu tiên. Một con bò đực nằm chết cháy đen thui bị mảnh bom toét nơi bụng văng ra nhiều miếng thịt. Thôi bò ai thì mình cũng lượm đở một miếng thịt về ăn trưa nay, nhà cũng chẳng còn gì ăn.
Ông X. đem về xắt thịt ra và đem kho trên bếp. Lúc đó bà X. cũng đã về nhà.
– Bà ơi! Thịt bò chết bom hồi trưa ở ngoài xe lửa mà sao nó khác khác thế này? Ông X. từ dưới bếp gọi lên
Bà X. chạy lên giỡ vung ra xem.
– Có lẽ thịt bò khét do bị cháy bom ấy mà.
Trên bếp lữa nồi thịt đang sôi sùng sục. Bà X. bỏ bớt củi ra thì thấy nồi thịt nổi sao nhiều lắm, mà sao không nghe mùi thịt bò nhỉ? Bà X. vội chạy sang nhà cô N. bảo cô sang xem thử sao thịt bò lạ thế?
Cô N. chạy sang cũng thấy lạ bèn múc một vá lên ngửi thử thì chẳng thấy mùi thơm gì cả.
– Không phải thịt bò bà ơi!
– Chứ là thịt gì?
Hai người trố mắt nhìn nhau, lạnh toát cả sống lưng.
Lúc này chổ bom nổ có nhiều tiếng người nói lao xao. Cả ba người vội chạy ra thì thấy có những người ngồi khóc, những người dạo quanh tìm kiếm. Hỏi ra thì được biết khi trưa ông Ho* dắt bò trên núi về thấy máy bay sợ quá ông chui xuống gần cống xe lữa chúng tưởng bộ đội rút quân theo suối và ném 2 trái bom xuống đó làm ông Ho* và con bò lảnh đủ. Thịt bò lẫn thịt người văng tung tóe. Thế là ông X. vô tình cầm nhầm miếng thịt – Thật khủng khiếp! May mà chưa ai ăn cái miếng thịt ấy.
Sự việc đó, bà N. kể oang oang ra lúc đó nên cả làng ai cũng biết, ai cũng xuýt xoa và kể đi, kể lại mãi đến bây giờ. Còn con bò chết thì người ta chỉ ăn phần trong xác con bò, những miếng thịt rơi vãi không phân biệt được đành phải chôn cùng với xác ông Ho*.
Từ ngày xảy ra cái việc kinh khủng đó, cái cống xe lửa được mang tên ” Cống ông Ho* ” mãi đến ngày hôm nay.
Lúc này pháo ở Gò Hội vẫn thường bắn vào ban đêm nên gia đình tôi lại phải ngủ hầm, có những bửa nóng nực, mồ hôi ra như tắm nhưng phải chịu và gần khuya thì trời dễ chịu hơn. Ban ngày thì vẫn lên gò làm rẫy và lần nào lên gò tôi cũng ghé vào Hố rác lượm đồ lặt vặt và xem cái hình người bằng cỏ. Chiếc đầu lâu thì ai đó đã đem chôn, nhưng cái hình người bằng cỏ ấy vẫn còn nguyên, cỏ xanh theo hình người một màu xanh ma quái. Về nhà vẫn còn kinh sợ, tôi vẫn kể lại chuyện đó.nên sau đó mẹ tôi không cho tôi lên Hố rác nữa.
Thời gian này tôi vẫn thường nghe người lớn bàn tán chuyện bộ đội và du kích ở đâu đó giết được nhiều Mĩ, việc anh nầy anh kia đã thoát li đi giải phóng, việc có những người chết ở nơi nào đó.
Trận cầu Vinh Hiển
Một buổi sáng hai tiếng nổ lớn ở hướng đường QL1 – nơi cách nhà tôi 2km, rồi tiếp theo là súng pháo các cở nổ dòn. Tiếp đến là 2 chiếc phản lực lồng lộn trên bầu trời chúi xuống ném bom. Nhìn từ xa thấy từng trái bom đen trủi lao xuống từ thân máy bay sau đó là từng cụm khói đen trùm lên sau những rặng tre mới nghe tiếng nổ rền.
Suốt buổi sáng tôi cùng anh C. leo lên cây ngồi xem trận chiến thấy hấp dẫn hơn xem phim chiến đấu bây giờ nhiều. Hai hôm sau tôi mới nghe mấy chú du kích kể lại đó là trận quân dân xã Phổ Thuận thắng Mĩ oanh liệt nhất.
Hôm đó được tin bọn Mĩ sẽ càn vào xã. Tại cầu Vinh Hiển ta đặt sẳn 2 trái bom. Cầu Vinh Hiển ta đã phá sụp trước đó để ngăn chặn chúng di chuyển bằng ô tô trên QL1. Cầu được bắt tạm bằng 3 cây dương để cho người đi bộ.
Đợi Tụi Mĩ tập trung đông ở đầu cầu và bắt đầu di chuyển qua gần hết qua bên nầy ta mới kích nổ bằng điện.
Hai trái bom nghe long trời lở đất, hất tung bọn Mĩ ra xa văng tung tóe khắp nơi. Số còn sống sót đã lọt qua bờ bắc thì lúng túng không biết chạy đâu, lăn vào các bờ bụi gần đó thì rơi vào bãi mìn và bị du kích tiêu diệt.
Kết quả có 31 tên lính Mĩ đã đền tội.
Chiến thắng Cầu Vinh Hiển như thổi một luồn gió mới vào cuộc sống của người dân quê tôi. Đi đâu cũng nghe mọi người bàn tán về trận thắng oanh liệt đó, đã trả được mối hận cho những người đã chết lâu nay dưới bàn tay của giặc Mĩ.
Những lá thư tìm thân nhân liệt sĩ
Tiện đây cũng nói thêm về việc tìm mộ liệt sĩ hy sinh ở quê tôi vào những năm 67-75 khói lửa ấy
Hôm đó – vào khoảng năm 2000 – khi đến cơ quan. Anh phụ trách văn phòng báo tin cho tôi là có hai người từ Thanh Hóa vào tìm, đang đứng đợi ngoài đường.
– Ủa! Tôi thì làm gì có người nào quen ở Thanh Hóa đâu mà tìm nhỉ?
Tôi chạy ra thì gặp 2 người đàn ông. Một người lấy trong túi áo ra đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ. Tôi giở ra xem thì đúng là nét chữ của tôi.
À! Đúng là thư của tôi gởi đi cách đây vài tháng. Trong thư báo tin cho gia đình Liệt sĩ: Hoà** Qu** Vi**
Quê ở xã…, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh hóa – Hy sinh năm 1967 biết là LS Vi** đang nằm tại nghĩa trang xã Phổ Thuận, quê tôi.
Sau 1975, các Ls đều dần dần được qui tập về NTLS của xã nằm dưới chân đồi Chóp Vung. Thỉnh thoảng tôi vẫn lên gò thăm phần mộ của cha và ông bà và thường hay ghé nghĩa trang. Trong NTLS có những phần mộ của LS tại địa phương và LS quê ở Miền bắc. Trong đó cũng có rất nhiều LS không rõ họ tên.
Qua nhiều năm, tôi thấy những phần mộ có ghi rõ họ tên, quê quán mà sao chẳng thấy ai vào thăm nom.
Hay là gia đình chưa biết tin tức nhỉ?
Tôi bèn ghi lại họ tên, năm sinh, ngày hy sinh, quê quán ở trên bia mộ, rồi viết gần 30 lá thư (Hồi đó chưa có máy Photocoppy) gởi đi các nơi, và cho địa chỉ liên lạc là cơ quan của tôi, cho nên hôm nay mới có người từ Thanh Hóa vào tìm.
Trưa hôm đó tôi chở cả 2 anh về nhà và dẫn lên NTLS thăm phần mộ.
Liệt sĩ Viên hy sinh năm 1967 vẫn có giấy báo tử từ năm 1975 nhưng chỉ ghi “Hy sinh ở Mặt trân phía nam”. Và hơn 30 năm sau gia đình mới biết nơi hy sinh, rồi hôm nay anh Qua** (em ruột LS) và anh Hu** (con duy nhất của LS) mới được đứng trước phần mộ của cha, anh mình. Biết đâu trong năm 1967 khói lửa ấy LS Vi** đã ở nhà tôi, hoặc đã đến nhận những gói cơm vắt từ tay của mẹ tôi.
Hôm sau, tôi lại chở anh Qua** vào Phòng LĐ – TBXH để xin thủ tục bốc mộ về địa phương thì được biết nhà nước không cho phép bốc những ngôi mộ đã qui tập vào NTLS. Và được biết thêm: Thân nhân vào thăm được thanh toán tiền tàu xe và lưu trú 3 ngày. Thôi thì cũng đỡ chi phí phần nào. Những tiêu chuẩn, chính sách như thế mà cả anh Qua** và gia đình tôi (Cũng là gia đình Liệt sĩ) chẳng ai được biết.
Khi chờ đợi anh Qua** làm thủ tục giấy tờ, thì tôi hỏi anh Phó phòng.
– Tại sao liệt sĩ đã biết rỏ quê quán mà hơn 30 năm các anh không báo tin nơi hy sinh cho gia đình? (Tôi đinh ninh rằng các anh nầy thiếu trách nhiệm)
Anh kéo tôi ra ngoài và nói:
– Chuyện nầy phức tạp lắm em ơi., có nhiều vấn đề không thể báo được.
– Thế thì trên ti vi họ vẫn hay tìm mộ liệt sĩ đó sao?
– Trên ti vi họ nhắn tìm là quyền của họ.
Nói rồi anh giải thích rằng: Các LS đã được qui tập vào nghĩa trang, phần mộ đã được chăm sóc. Bộ LĐ – TB và XH vẫn nắm rõ danh sách các liệt sĩ ở các nghĩa trang nhưng chủ trương không báo tin, vì nếu thế thì các thân nhân sẽ đòi bốc mộ rối tung lên, và theo đúng nguyên tắc thì nhà nước phải tổ chức bốc mộ và làm lễ truy điệu đưa về tận quê quán, một công việc rất tốn kém, chưa thể làm nổi.
Nghe anh giải thích tôi cũng hiểu phần nào nhưng vẫn chưa thông. Chẳng lẽ nhà nước lại đối xử tệ hại với gia đình của LS thế sao? Thà rằng không biết tên tuổi, quê quán, còn biết rất rõ mà vẫn không cho gia đình biết hiện giờ LS nằm ở đâu thì có nhẫn tâm quá không? Không còn cách nào hay sao?
Sau đó, tôi cũng dẫn anh Qua** và Hu** đến nhà anh B. là người phụ trách công tác TB – XH của xã để xin bốc mộ. Anh B. cũng nói rằng xã không dám cho bốc mộ.
– Xin anh cho bốc LS về quê để tiện bề hương khói, vì điều kiện gia đình quá khó khăn, lại ở xa, không thể vào thăm nom hoài được – Anh Qua** nói.
– Về nguyên tắc thì xã không dám cho bốc mộ. Nhưng với nguyện vọng chính đáng của anh thì anh cứ tự lên bốc, xem như xã không biết – Anh B. nói.
Anh Qua** và tôi cảm ơn rồi đi về.
Đưa cha về quê
Sáng hôm sau, tôi rủ anh D. và anh Ba là người láng giềng cùng chuẩn bị cuốc xẻng để lên bốc mộ dùm cho anh Qua**. Chuẩn bị xong xuôi, sắp bước đi thì Hu** ngồi gục xuống bàn khóc nức nở.
– Cha ơi! Hơn 35 năm rồi, bây giờ con mới được gặp ba
– Hôm nay biết được phần mộ của cha, được đem cha về quê thì phải vui lên chứ con – mẹ tôi nói
– Hồi ba con đi vào nam, con vẫn còn trong bụng mẹ, con có biết mặt ba mình thế nào đâu. – Hu** vẫn nức nở.
– Hôm nay đưa ba về quê là vui rồi. Thằng nầy cũng có biết mặt cha nó đâu, khi cha chết nó cũng mới sinh, có cái bóng ba nó để thờ mà hồi chiến tranh cũng cháy mất rồi – Mẹ tôi đưa tay chỉ vào tôi và nói.
Tôi rất hiểu tâm trạng của Hu** – Trước khi thấy xương cốt của người cha mà mình chưa hề biết mặt ai mà không xúc động. Ai cũng an ủi Hu** và chờ cho Hu** nguôi nguây bớt rồi chúng tôi đi lên nghĩa trang.
Mỗi phần mộ LS trên nghĩa trang đều đã được xây nhưng cũng may là vì kinh phí ít nên chỉ xây đơn giản như hình một cái hộp bên trên vẫn là đất không tráng xi măng. -Đào xuống 1m là đã gặp hài cốt. Chỉ còn một ít xương và đất đen. Sau đó chúng tôi lấp đất lại và vẫn giữ nguyên hiên trạng như chưa bốc mộ để giữ cảnh quan thẩm mĩ cho khu nghĩa trang theo như lời anh B. phụ trách TB-XH căn dặn.
Chiều đó anh Qua** và Hu** gói hài cốt trong nilon bỏ vào túi xách như đi du lịch mới đón xe được về quê, chứ nếu để lái xe biết thì chẳng xe khách nào nhận chở hài cốt.
Sau đó có hai trường hợp nữa ở Ninh Bình và Hà Nam cũng vào bốc mộ. Có trường hợp cháu của liệt sĩ cũng gởi thư vào nhưng có lẽ nhà nghèo quá, và không còn ai đi dược nên cũng chẳng thấy vào thăm, có trường hợp đã bốc mộ rồi mà tôi không biết nên vẫn viết thư báo tin.
Tôi thấy 3 trường hợp vào bốc mộ đều là những người rất nghèo. Còn những gia đình khá giả, hoặc làm chức này chức nọ thì thấy họ đã tìm được mộ ở nghĩa trang từ lâu rồi.
Cho nên cả 3 trường hợp đó tôi đều nhiệt tình giúp đở, kể cả việc bốc mộ anh em tôi cũng tự làm giúp chẳng phải tốn một đồng thuê mướn.
Bởi vậy, tôi thiết nghĩ: Cần phải báo tin cho gia đình nơi yên nghĩ của các LS đã biết rỏ quê quán. Chứ thân nhân làm sao biết họ đã nằm vào nghĩa trang. Đừng để những bà mẹ trước khi nhắm mắt mà vẫn không biết thân xác con trai mình nằm ở nơi xó rừng hoang vắng nào.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 3. Hố rác trên đồi Chóp Vung
Tập sau: Tập 5. Tết Mậu Thân và cuộc biểu tình ở Trà Câu
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên. Tên liệt sĩ và thân nhân trong đoạn tìm mộ cũng được ghi ẩn để giữ riêng tư cho gia đình.


