Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 19: Lớp học trường làng
· 14 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 19/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Màu tím của những đồi sim trong chiều hành quân đã gợi cho Hữu Loan một nổi nhớ về người thương, nhớ về quê hương da diết. Đó cũng là tâm trạng của bao thế hệ những người lính ở chiến trường suốt 40 năm sau đó. Lớp lính bây giờ có đi qua những đồi sim thì chắc khó mà có cái tâm trạng như thế vì mọi chuện ở quê nhà đều đã biết qua DTDD.
Một lớp học trường làng thời kháng chiến
Suốt thời kỳ chiến tranh ác liệt 7-8 năm qua thì toàn xã Phổ Thuận không hề có một cái trường tiểu học nào. Sau Hiệp định Pari thì có hai nơi mở lớp học tự phát. Đó là ở chùa Ông Hạ** – thôn Vùng 4, do một số người trốn lính khoát áo thầy tu mở vài lớp trong chùa để dạy trẻ học, thứ hai là lớp học của thầy Hoà** ở thôn Thiệp Sơn. Cả hai nơi đều chỉ dạy lớp 1, 2, 3. Lớp 4,5 thì phải đi xuống Trà Câu hay ra Mộ Đức cách xa 5-6 cây số.
Thời gian này ở thôn Thiệp Sơn quê củ của tôi cũng bình yên. Thôn nằm dưới chân đồi Chóp Vung, trước mặt là đồng trống nên du kích chẳng dám tổ chức đánh địch ở đây, vì không có đường rút. Tuy vậy dân chúng về ở vẫn còn khá thưa thớt, đa số vẫn còn ở nơi tản cư ngoài Mộ Đức, hay Trà Câu ven quốc lộ để tránh đạn pháo, chỉ về làng vào ban ngày để làm ruộng. Mỗi lần về nhà nội, tôi vẫn thường chạy qua xem lớp học ở đây.
Ông Hoà** là người dân trong thôn chứ chẳng phải gốc thầy giáo. Vợ chết trong lần đi biểu tình ngày mồng 1 tết năm 1968 ở Trà câu, ông vẫn ở vậy nuôi 3 đứa con cùng với một mẹ già. Thấy tụi nhỏ không biết học chữ ở đâu nên ông mới mở lớp tại nhà. Trường học là một cái trại làm bằng tre, lợp tranh, bàn ghế cũng làm bằng các miếng tre, chân bàn và chân ghế là những đoạn tre đóng cố định xuống đất. Cả ba lớp 1,2,3 được tất cả mười mấy học sinh và đều học chung một buổi – giống như ở vùng núi hiện nay mà ta gọi là lớp nhô – Các học sinh đa phần là trễ học 3 – 4 năm so với tuổi. Trước lớp học để một cái vò nước lạnh, có một cái gáo dừa để học sinh uống nước.
Thầy Hoà** cũng đã già, người gầy nhom đang cho gà vịt ăn, thì tụi học sinh đến. Tới giờ dạy rồi mà thầy vẫn tiếp tục cho vịt ăn, vì còn chờ những đứa khác tới cho đông đủ. Khi nào học sinh đến sớm thì thầy dạy sớm, đến trễ thì thầy dạy trễ. Cuối tháng thì cũng xếp vị thứ và nhờ ấp trưởng thôn Thiệp sơn là ông B* đóng dấu vào bảng danh dự để phát cho các học sinh đứng nhất, nhì trong lớp.
Lúc học sinh đã vào đông đủ thì thầy mới rửa tay và vào nhà cầm vài quyển sách ra dạy. Những đứa nhỏ lớp 1 thì ngồi ở bàn trên, những đứa lớp 2 ngồi giữa và bàn cuối cùng thì dành cho 4 đứa lớp 3. Thầy cầm phấn chia cái bảng ra làm 3 phần. Đầu tiên thầy ghi lên bảng vài bài toán cho tụi lớp 2 và 3 làm, rồi thầy mới ghi vào phần bảng còn lại vài từ vựng cho các em lớp 1 và hướng dẫn chúng đánh vần. Trong khi tụi nhóc đánh vần ê, a thì có vài đứa con gái lớn phía sau lấy lá giang và bịch muối lận trong lưng quần ra ăn. Lá dang chua làm cái mặt chúng nhăn riết và cười rúc rích. Thầy Hoà** vẫn thấy hết mọi chuyện nhưng có lẽ vì bận rộn cầm tay luyện viết cho tụi nhóc và chuyện ăn me hoặc lá dang chắc xãy ra hằng ngày, nên thầy cũng chẳng nói gì. Hướng dẫn hết lượt lớp 1, rồi thầy quay qua giải mấy bài toán cho tụi lớp 2, 3. Dưới lớp có đứa loay hoay ghi chép, có đứa thò tay chụp mấy con gà con chạy lung tung trong lớp, Con gà mẹ thấy con kêu liền chạy xồ từ ngoài vào kêu quang quát. Lũ học sinh cười ré lên, tạo thành một âm thanh hỗn độn thật nực cười. Thầy Hoà** phải dừng giảng bài, đi xuống đuổi gà ra, la rầy những đứa nghịch ngợm và ổn định lại lớp học.
Giờ ra chơi, tụi học trò ùa ra sân bắn bi hoặc nhảy dây. Có đứa khát nước thì múc một gáo dừa nước lạnh trong lu tu ừng ực, có đứa lại múc nước đó để rửa những đôi chân trần mốc thích. Có hôm trong giờ học có đứa lại la to.
– Thúi cứt heo quá thầy ơi!
Đúng là cạnh lớp học có cái chuồng heo của nhà thầy, nên đôi khi gió chướng hắc vào vẫn nghe mùi khó chịu và thỉnh thoảng bầy heo vẫn la “en ét” vang vào lớp học.
Chứng kiến một buổi học với bao vất vã của thầy Hoà** mới thấy được hết công lao của thầy. Những đứa học trò tinh nghịch, vô tình như thế chắc sau nầy sẽ nghĩ lại càng nhớ ơn thầy. Nếu không có cái lớp học xập xệ, thúi phân heo ấy thì trẻ con ở cái làng heo hút này có mấy đứa sẽ theo được con chữ.
Khi học sinh ra về hết thì hoàng hôn cũng dần buông xuống. Mọi người trên rẫy, dưới đồng thì ai cũng lo về nhà nấy, trâu bò cho vào chuồng sớm, chúng đứng im, miệng con nào cũng nhai nhai lại thức ăn, mỗi nhà lại cách xa nhau hàng trăm thước, nên chẳng qua lại gì nhau. Xóm làng lại vắng ngắt, buồn tẻ, chỉ có tiếng kêu “quạ, quạ” của bầy quạ trở về tổ trong ánh chiều tà nhập nhoạng. Cô D* của tôi chẳng biết chơi cùng ai. Lần nào cũng đem dây su ra sân và bảo tôi ở lại để nhảy dây. Tôi thì chẳng mấy khi muốn ở lại với cái không gian buồn bã ấy.
Hình ảnh về những lớp học trường làng trong thời kháng chiến nó in mãi trong tôi và làm cho tôi lại liên tưởng đến những cái “Trường điểm” ở các thành phố lớn hiện nay. Trường điểm là một môi trường tốt để ươm những mầm xanh, nhưng có đáng để người ta phải chạy chọt hàng chục triệu cho con em mình vào đó hay không? Và từ khi có trường điểm thì lại dẫn đến chuyện ngược đời là “Thi vào lớp 1” Trẻ em chưa đi học mà đã đi thi! Và chuyện chạy trường, chạy lớp là chuyện “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.
Ngôi trường bị giật mìn
Thời gian này ở thôn Vùng 5, chính quyền bắt đầu xây một ngôi trường tiểu học. Địa điểm nằm sát đường QL1
Ông Đứ* là lính Xây dựng nông thôn phụ trách chuyện này. Hàng ngày ông mặc bộ đồ đen, khoát khẩu súng cacbin, cưỡi xe đạp chạy lăng xăng để đôn đốc những người thợ xây. Những đứa trẻ con thì phấn khởi vì chúng sắp được học gần nhà, khỏi phải đi bộ mấy cây số để ra Mộ Đức học. Sau một thời gian xây dựng thì ngôi trường cũng đã hình thành, có 3 phòng quét vôi trắng toát, bên trên lợp ngói, chuẩn bị khánh thành.
Tối hôm ấy, mọi người giật mình bởi hai tiếng nổ khá lớn trên hướng QL1. Thôi! Chắc là xe nhà binh chạy ban đêm bị đánh mìn. Ai cũng nghĩ bọn lính trên xe chắc là tiêu đời hết rồi nên không hề nghe một tiếng súng đánh trả nào hết. Sáng hôm sau tôi chạy lên đường cái để xem thử thì thấy không phải xe bị giật mìn mà ngôi trường mới bị nổ mìn cả 3 phòng học tan tành thành đống gạch vụn. Cả một đoạn đường QL trắng xóa những hình vẽ và các khẩu hiệu được viết bằng vôi lấy từ mấy thùng vôi quét tường. Những câu khẩu hiệu như.
– Đả đảo Đế quốc Mỹ
– Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ tay sai…
Viết rất to trên mặt lộ
Lúc ấy đã thấy có nhiều lính và viên chức chính quyền ngụy đã đứng ở đó. Một người lính đứng trên chiếc xe Lambeta 3 bánh từ trong quận ra, xe vừa chạy chậm lại, anh ta liền vọt xuống. Chẳng may chân vừa chạm xuống đường đụng phải chổ vôi còn ướt, làm anh ta trợt chân quay lộn mấy vòng trên mặt đường, mọi người đứng đó đều cười ồ lên. Vôi trắng dính khắp mặt mũi, quần áo anh ta như một hình nộm. Ai cũng không hiểu tại sao du kích lại giật sập trường học để làm gì?
Tối hôm ấy du kích xã Phổ Thuận về rất đông. Mọi người đều lao nhao hỏi về vụ nổ mìn đêm qua
– Sao trường để trẻ em học, mà mấy ông lại giật mìn?
– Nếu xây trường dạy học thì quí quá. Nhưng để ngôi trường thì địch sẽ xây tiếp một cái đồn nơi đây và chúng sẽ cắt đứt con đường qua lại nối 2 vùng đông, tây QL1 thì làm sao cách mạng hoạt động được?
Nghe các anh du kích giải thích cũng có lí, nhưng rồi ai cũng tiếc ngôi trường, và lũ trẻ phải tiếp tục đi học ở xa.
Về sản xuất nông nghiệp
Việc học hành thì như thế, còn việc sản xuất nông nghiệp thì lúc này người dân có một giống lúa mới năng suất cao hơn hẳn các loại trước đây, đó là giống lúa Thần nông. Trước đây người dân cấy các loại lúa như: Bông rinh, An cựu… Cây lúa rất cao, thời gian sinh trưởng dài ngày, nhưng năng suất thấp. Cây lúa Thần nông thì thân lùn, thời gian thu hoạch ngắn mà năng suất lại cao. Khi thu hoạch, người dân vẫn cắt lúa ôm lại từng đống rồi đập lúa vào một cái bồ. Lần đầu tiên nhà ông ngoại tôi đóng được cái máy suốt lúa chạy bằng máy coler. Khi đem ra đồng sử dụng, ai cũng tới xem và trầm trồ khen ngợi, rồi nhiều người tới thuê để đem về gặt ruộng nhà mình. Sau giải phóng, xăng rất hiếm nên người ta thay máy nổ bởi cái bàn đạp để đạp quay cái guồng suốt lúa. Rồi gần 10 năm trở lại đây thì toàn bộ máy suốt đã được gắn máy nổ trở lại, và cái máy suốt lúa như thế vẫn dùng ở hầu hết các tỉnh đồng bằng ven biển Miền trung hiện nay.
Thu thuế giữa đồng
Sáng chủ nhật hôm ấy, nhà ông tôi rất đông người, vì có ông bà D* và các cậu, dì từ thị xã Quảng ngãi về. Ông D* là em của ông ngoại tôi, thời chiến tranh ác liệt đã chạy ra Quảng Ngãi và sinh sống ngoài đó, nhưng vẫn về làm ruộng ở quê và nhờ ông tôi trông coi. Sáng nay cả nhà về thăm chơi và thu hoạch lúa. Các cậu thì mang giày, các dì thì mặc những bộ đồ rất đẹp, rất sang trọng và đem theo nhiều thịt cá để nấu ăn trưa nay. Những người đi gặt thì thuê ở trong xóm và đã xuống ruộng từ sớm.
Đến nửa buổi chiều thì đã gặt xong mấy đám ruộng được mười mấy bao lúa. Mọi người đang ngồi ngoài đồng ăn chiều bằng thức ăn bánh tráng quấn với cá biển và rau muống thì có hai người du kích từ xa đi tới. Một người mang cái túi xách, người kia thì mang khẩu AK. Đến nơi thì người mang túi xách nói.
– Gia đình ông D* làm ruộng mấy mùa qua nhưng chưa có đóng thuế, vậy hôm nay chúng tôi đến để thu thuế cho cách mạng
Đúng là bà D* mấy mùa qua, khi gặt xong là chở lúa về Quảng Ngãi, nên cách mạng chẳng thu thuế được gì. Hôm nay biết được ngày gặt nên họ ra thẳng ngoài đồng để thu. Gia đình mọi người ở đây mỗi mùa cũng đều đóng thuế (thường là bằng tiền) vào những đêm họp mitinh để ban kinh tài của xã chuyển lên trên mua gạo, thuốc tây cho bộ đội và du kích. Sau vài phút ngỡ ngàng bà D* bèn nói.
– Tôi ở Quảng Ngãi, không biết đóng thuế ở đâu, nên chưa đóng. Mấy ông cho tôi nộp thuế vụ này thôi, còn các vụ kia, để lại mùa sau được không?
– Không được đâu! Cách mạng đang thiếu gạo, bà phải nộp hết các vụ vừa qua – Người mang túi xách nói.
Rồi hai người du kích bợ riêng ra 5 bao lúa để trưng thu. Họ lấy viết ra ghi vào tên người nộp lúa và số lượng lúa chứ chẳng có giấy biên nhận gì. Mọi người thồ số lúa còn lại về nhà ông tôi, còn bà D* thì mặt buồn tiu nghĩu.
Thời gian trước đó tôi cũng hay thấy những tờ truyền đơn của ngụy tuyên truyền xuyên tạc, vẽ cảnh Việt cộng ra thu lúa của dân ngoài đồng, nhưng thực chất là thu của những người ở vùng địch mà nhiều năm không chịu nộp thuế. Còn người dân ở quê tôi thì ai cũng tự giác đóng góp đầy đủ thì đâu có chuyện xảy ra như vừa rồi.
Cùng với việc trồng lúa, người dân còn trồng các loại hoa màu khác như khoai mì, khoai lang, đậu phộng và bây giờ bắt đầu trồng lại cả cây mía để sản xuất đường. Đất Quảng ngãi rất phù hợp cho cây mía, trừ những nơi thấp thì làm ruộng, còn nơi nào cũng trồng được mía. Ngày trước xóm nào cũng có lò che để ép đường. Chiến tranh tràn qua khốc liệt, các lò che cũng bị cháy hết, cây mía cũng cháy theo. Thay vào đó là người dân trồng củ mì, củ lang dễ thu hoạch hơn. Bây giờ tình hình cũng tương đối yên ổn, nên có nơi người dân đã trồng mía và mở lại các lò che để ép đường. Nhìn mọi người cười đùa vui vẻ, kẻ thì đánh trâu đi vòng quanh, làm quay các ông che để người khác đút mía cho che ăn nghe rào rào bên canh các chảo đường nghi ngút khói tạo cho ta có cảm giác cuộc sống rất thanh bình no ấm như không hề có chiến tranh ở nơi đây. Hình ảnh đó làm cho tôi liên tưởng đến 2 bài học thuộc lòng nói về quê hương rất hay mà mình đã học hồi lớp 5.
Quê tôi
Quê tôi sông nước thanh bình
Quê tôi mái cỏ lều tranh nghèo nàn
Quê tôi có dãi cát vàng
Có con sông nhỏ bắt ngang nhịp cầu…
Quê xưa
Từ ngày li biệt quê hương
Ra đi để sống trên đường tự do
Nhớ bao kỉ niệm năm xưa
Bình minh nắng phủ bóng dừa vàng hoe…
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 18. Chiến tranh tâm lý và chuyện học hành
Tập sau: Tập 20. Cuối năm 1974
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


