Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 18: Chiến tranh tâm lý và chuyện học hành
· 17 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 18/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Một hình thái mới của chiến tranh
Thời gian sau hiệp định Pari, lúc đầu quân VNCH còn tổ chức phản công rầm rộ để chiếm lại những phần đất đã mất, nhưng sau đó lại mất tiếp những phần đất đã chiếm được. Lúc này đạn dược bị Mĩ cắt viện trợ nên pháo bắn cũng rất hạn chế. Nhiều vụ ám sát nổ ra giữa ban ngày cho nên tụi ác ôn không còn hung hăng như trước nữa. Đặc biệt quân giải phóng lúc này hay dùng chiến thuật đặc công để đánh đồn.
Một hôm trên đường đi học, gần tới cầu Nước Mặn, thấy một số người đứng xem cái gì đó. Tới nơi tôi thấy hai xác người đen thui đang nằm chết bên lề đường. Đó là hai thanh niên, người mập tròn quay, người nào mình mẫy cũng đen thui. Màu đen là do sơn lên người giống như lọ nồi bôi lên chứ không phải đen cháy do thuốc nổ. Đặc biệt có một người nằm trần truồng, không một mảnh quần áo che thân. Có ai đó tủ lên chổ kín của anh bằng một miếng vải bằng bàn tay. Có lẽ khi địch kéo xác từ bên ngoài đồn lên lề đường thì cái quần đùi đã bị móc vào hàng rào kẽm gai nên tuột mất. Mọi người nhìn cái xác trần truồng đều thương cảm cho anh. Một người nói.
– Sao phải bôi mình mẩy đen thui thế nhỉ?
– Lính đặc công mà! Phải bôi đen như thế để khi mò vào đồn mới khó bị phát hiện.
Những lần sau ở Cầu Nước Mặn lại liên tiếp thấy những xác của các chiến sĩ đặc công bị bắn chết bỏ bên ven đường. Khi thì một người, khi thì 2 người, khi thì người sơn đen, khi thì sơn xanh. Tất cả đều là thanh niên lứa tuổi đôi mươi, người nào cũng mập mạp tròn quay, không giống các ông giải phóng bị giật hầm trong các trận càn thì người nào cũng gầy nhom, mặt mày hốc hác vì thuốc nổ. Nhìn sang bên ngoài đồn ở Cầu Nước mặn tôi thấy rất là trống trải, chỉ vài bụi cỏ tranh lưa thưa bên những lớp rào bùng nhùng, rào vướng chân nằm sát mặt đất. Đứng trên đường QL còn thấy cả những trái mìn laymo được gắn trên 3 chân quay bề lõm ra ngoài. Thế thì làm sao những người đặc công có thể cắt được mấy lớp rào đầy mìn bẫy như thế để vào đồn, nên chưa có lần nào đặc công tiêu diệt được đồn Nước Mặn. Cây Cầu này do một trung đội lính người thượng trấn giữ, có mang theo cả vợ con ở trong đồn. Hằng ngày vẫn thấy những người vợ lính mặc chăn (cà tu) đi bắt cá, bắt những con nòng nọc, ếch nhái ở cánh đồng ven đồn để về ăn.
Có một lần đặc công mò được vào đồi Núi Thụ – Cách cầu Nước Mặn hơn 1km về hướng bắc – bắt sống được toàn bộ trung đội ngụy, mười mấy tên, nhưng tiếc thay, tên đồn trưởng Li* là ác ôn đêm ấy đi sang đồi Núi Bé để đánh bài nên thoát chết.
Một hôm ông Th** bị lính bắt đi chôn những người đặc công, khi về ông lấy cho mọi người xem một tờ bạc 500đ có dính nhiều máu. Ông nói rằng những lần đi chôn xác thì đều thấy trong người của các chiến sĩ có một tờ bạc như thế. Có lẽ đó là tài sản duy nhất mà người lính mang theo để lỡ khi chạy lạc vào vùng địch thì vẫn có tiền để sống tạm vài ngày.
Những tờ truyền đơn
Song song với việc tấn công nhau bằng súng đạn, thì cả hai bên cũng đều ra sức tuyên truyền bằng
Chiến tranh tâm lí. Phía Cách mạng lúc này cũng thấy có truyền đơn được đánh máy trên giấy pulia bằng nửa trang giấy học trò và rãi trên QL, nhưng rất ít. Còn công tác mitinh, gọi loa thì nhiều. Phía VNCH thì sau hiệp định Pari nhà nào có mái tôn cũng đều bị vẽ lên lá cờ ba sọc, vẽ cả lên những bức tường. Còn truyền đơn thì nhiều vô kể.
Một hôm ông ngoại tôi đi làm đồng về đưa cho tôi một mãnh giấy và bảo tôi đọc lên nghe. Tôi cầm lên xem thì đúng là tờ truyền đơn mà tôi đã đọc nhiều lần. Trong tờ truyền đơn là một bài thơ của một người lính Bắc Việt gởi cho một người mẹ. Từ 1970 đến giờ Máy bay đã rãi nhiều lần bài thơ này, rãi trắng cả đồng. Mặt trước của tờ truyền đơn vẽ hình ảnh người mẹ già với đôi mắt buồn nhớ con, bên cạnh là cảnh chiều quê với xóm nhỏ có con trâu về chuồng, có dàn mướp. Mặt sau vẽ cảnh người chiến sĩ ngồi bệt dưới đất, chân duỗi ra, đầu cuối xuống, gương mặt buồn bã. Hôm ấy tôi đọc bài thơ cũng có nhiều người đứng xem, ai cũng khen bài thơ hay quá. Có lẽ tác giả đúng là một người lính Bắc Việt thật sự mới có nhưng cảm xúc thật sự như thế. Nhưng tiếc rằng đoạn sau tác giả lại nhìn nhận không đúng về mục tiêu chiến đấu giải phóng Miền nam của mình. Bây giờ nhắc lại thì chẳng ai thuộc hết bài thơ, riêng tôi thì vẫn hay nhẩm đọc lại, nên vẫn còn nhớ đầy đủ từng chữ, từng câu, từng hình ảnh của tờ truyền đơn khi ấy.
Ở đoạn trước tác giả tả cảnh gian khổ của người lính trên đường vào nam chiến đấu, với nổi nhớ quê hương da diết
“Mấy tháng trời đêm nghỉ, ngày đi
Giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh
Có những chiều trường sơn núi rừng hiu quạnh
Mẹ hiền ơi, con chợt nhớ đến quê mình
Khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ, mái đình xưa nhớ quá”
Nhưng sự gian khổ ấy không làm nhụt chí nam nhi:
“Vì hòa bình đâu có ngại bước gian nguy”
Đoạn đầu đã thể hiện lí tưởng của lớp thanh niên lên đường đánh Mĩ khi ấy. Nhưng đoạn sau tác giả lại rơi vào sai lầm khi viết:
“Con nhìn ra nào giải phóng vì đâu?”
Khát vọng thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ nước Việt nam là khát vọng của cả dân tộc. Vì nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một, không ai có thể chia cắt được. Nhưng Đế Quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã bội ước hiệp định Giơ ne vơ, nên mới có cuộc chiến tranh mới kéo dài mãi đến bây giờ.
Bài thơ tuy có hạn chế như trên, nhưng đã để lại trong tôi một cảm xúc đặc biệt về một thời chiến tranh khói lửa.
Ngoài tờ truyền đơn trên, thời gian sau 1972, địch còn rãi nhiều kiểu truyền đơn khác mà tụi nhỏ chúng tôi thường chạy lượm về chơi như những tờ tiền mới.
Một người lính chiêu hồi và một người lính phản chiến
Thời gian này tôi đã vào trường Trung học Mộ Đức, ở thị trấn Đồng Cát. Một buổi sáng đến trường thì không học như mọi khi mà nhà trường gọi tập hợp học sinh lại, ngồi sắp hàng dưới sân để chờ đợi một cái gì đó. Một lát sau có một chiếc xe JEEP chạy vào trường, trên xe có cả lính và vài người mặc đồ dân sự. Thầy hiệu trưởng giới thiệu vị thiếu tá quận trưởng lên nói chuyện. Vị thiếu tá lên trước bục giới thiệu: “hôm nay có một người bộ đội Bắc Việt đã hồi chánh về với Chính nghĩa Quốc Gia, sẽ lên nói chuyện với toàn trường”. Gần cả nghìn cặp mắt đổ dồn về một người đàn ông mặc đồ dân thường, cở 30 tuổi đang bước lên bục. Anh ta nói tiếng bắc, cũng có giới thiệu tên nhưng tôi cũng không còn nhớ. Anh ta kể nhiều chuyện, nhưng tôi chỉ nhớ đại khái là ở nông thôn Miền bắc thì mọi người đều phải vào hợp tác xã. Mọi tài sản đều là của tập thể, đi làm theo tiếng kẻng và ăn theo công điểm rất là đói khổ. Ngày lễ thì không được nghỉ mà phải làm việc bằng 2, bằng 3, hội hè đều bỏ hết… Ở Miền nam thì thấy cuộc sống rất no ấm cho nên anh ta quyết định chạy về với Quốc gia…
Không biết anh ta có phải đúng là lính Bắc chiêu hồi hay là dân di cư, và anh ta kể sao thì hay vậy chứ cả trường cũng chẳng có ai biết đúng, sai như thế nào.
Vài tuần sau thì tôi lại chứng kiến tiếp một vụ hoàn toàn tương phản với vụ nầy. Đó là việc một người lính sư đoàn 2 bỏ ngũ chạy ra vùng giải phóng.
Hằng ngày tôi vẫn về quê nội ở Thiệp Sơn để trồng củ, tỉa đậu… Bà nội tôi vẫn hay nấu củ lang, củ mì, tới mùa thì nấu đậu phộng để ăn chiều. Những lần như thế thì cũng thường gặp các người lính sư đoàn 2 đóng quân trên đồi Chóp Vung đi xuống xóm lấy nước và được mọi người mời cùng ăn. Ăn xong thì các anh lính đó đổ nước đầy vào các ống đạn, mỗi ống cỡ vài chục kí, rồi vác lên đồi. Khi trước ở đây do lính thuộc trung đoàn 4 đóng quân, lính trung đoàn 4 đa số là dân Miền trung và rất hung dữ. Thời gian này lính trung đoàn 5 đổi về đóng ở đồi Chóp Vung, đa số là dân Miền nam, nói tiếng Nam bộ rất dễ nghe và ai cũng rất hiền.
Một buổi chiều, mọi người đang ăn củ mì thì có một người lính đi tới. Mọi người ngạc nhiên sao hôm nay chỉ có một người. Ông tôi mời anh ăn củ nhưng anh không ăn mà nói.
– Bác có biết giải phóng họ ở chổ nào không?
– Ủa làm sao tôi biết được họ ở đâu? Ông tôi nói.
– Nói thật với bác là cháu muốn chạy qua bên giải phóng để tìm đường về quê, mấy năm rồi không được về nhà. Cháu ngán ngẫm cái đời lính này quá rồi
Thật ra ai cũng biết vùng có du kích gần đây lắm, nhưng ai biết anh ta nói thật hay lừa mình để bắt bớ đây? Ai cũng bảo không biết ở đâu có du kích, nhưng anh ta cứ năn nỉ mãi. Ông tôi nói.
– Quê của chú ở đâu vậy?
– Ở Cần Thơ, nhà cháu hiện giờ ở trong vùng giải phóng. Người nào dẫn dùm tui ra gặp mấy ông giải phóng đi?
Lúc nầy thì ai cũng cũng cảm nhận rằng anh ta nói thật lòng mình, nhưng dẫn đi thì chẳng ai dám. Mọi người mới nói rằng thấy du kích hay ở dưới xóm kia, rồi ai cũng đưa tay chỉ về hướng thôn Mỹ Thuận (là nơi du kích xã Phổ Thuận ở), chỉ cách đây một cây số đi qua một cánh đồng. Anh lính liền cảm ơn rồi xăm xăm bước vội về hướng ấy như sợ để chậm sẽ bị bắt trở lại. Sau đó cũng chẳng biết số phận của người lính ấy ra sao nữa.
Chuyện học hành
Cuối bậc tiểu học thời ấy vẫn tổ chức thi để cấp chứng chỉ gọi là CHỨNG CHỈ HỌC TRÌNH. Tiếp sau đó là đợt thi tuyển vào trường trung học công lập. Ai không đậu thì học trường bán công hoặc trường tư thục, giống như tuyển sinh vào PTTH hiện nay. Nộp đơn thi thì cũng chẳng thấy xét lí lịch gì, làm bài thi vẫn cắt phách và ngồi theo số báo danh. Trong phòng thi thì tôi vẫn thấy có cô giáo giám thị đưa tài liệu cho thí sinh quen biết, giống như bây giờ.
Hằng ngày đạp xe đến trường đi về 20km rất mệt nhọc, nhưng cũng rất vui, vì được biết thêm nhiều thầy cô và bạn bè mới, biết thêm được cuộc sống của người dân ven QL ở địa bàn huyện Mộ Đức. Những nơi nầy cũng giống như quê tôi, thỉnh thoảng vẫn thấy những trận đánh vào cả ban ngày ở những nơi xa xa, súng đạn nổ rền, nhà cháy khói bay lên nghi ngút. Lâu lâu cũng thấy xác của các ông giải phóng bỏ nằm ven đường.
Trong lớp học những đứa lớn tuổi cũng hay kể chuyện thời sự, kể chuyện các trận đánh xảy ra ở chổ này, chổ kia. Rồi cũng thường hay đùa giỡn là: “Chán học thì tao đi nhảy núi”. “Nhảy núi” là cái từ để chỉ những người thoát ly đi theo cách mạng (Vì cách mạng thường trú ẩn ở trên núi). Cũng có nhiều lần tranh luận giữa những đứa là con em gia đình cách mạng với những đứa con của ngụy quân, ngụy quyền về các vụ bắn giết trong các trận chiến đã xảy ra. Nhưng thường những đứa theo phe cách mạng đông hơn nhiều lần những đứa kia.
Vào trung học (Lớp 6 đến lớp 12) thì nữ sinh phải mặc áo dài trắng, nam sinh thì vẫn quần xanh áo trắng có biển tên. Những đứa mất trật tự hoặc không thuộc bài là bị thầy cô cầm cây đánh thẳng tay. Sợ nhất là giờ thầy S. dạy toán. Thầy dạy rất hay, dễ hiểu, nhưng đánh cũng rất dữ. Có những đứa con gái mặc áo dài lên bảng không thuộc bài bị thầy quất 4-5 cây phải hẩy cái mông tới trước cho bớt đau, mặt mày thì nhăn nhó trông thật tội nghiệp. Nghe các anh lớp trên kể lại rằng vào mấy năm trước, trong một giờ giảng, thầy S. thấy một học sinh nam cũng lớn xác ngồi ngủ trong lớp, thầy gọi học sinh đó đứng lên và nói.
– Ê, thằng kia! Hồi hôm mầy đi phá vi hay sao giờ này lại ngủ trong lớp?
Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì nhân dân có phong trào phá tung hết các ấp chiến lược để về quê cũ, gọi là phá vi (bờ vi: hàng rào ấp chiến lược) Phá vi thường là đêm khuya, hầu hết mọi người, từ cụ già đến các em học sinh đều tham gia, và bờ vi lần lượt bị đốt cháy tan tành. Thầy S. có lẽ vô tình nói đùa như thế chứ chẳng phải bài xích gì chuyện phá vi. Nhưng sau đó, em học sinh kia về nói lại với du kích. Vài đêm sau, các anh du kích đến nhà mời thầy lên núi học tập 3 tháng mới cho về. Cũng có những thầy hay tuyên truyền về cách mạng cho học sinh thì cũng bị chuyển đi nơi khác. Sau đó hầu hết các thầy giáo cũng chỉ dạy những điều chuyên môn trên lớp chứ chẳng thấy khi nào nói đến vấn đề chính trị với học sinh. Kể cả các thầy giáo dạy sử cũng chỉ nói những điều trong sách giáo khoa chứ chẳng dám nhận xét gì về tình hình chiến sự đang nổ ra hằng ngày. Có những đứa học sinh bỏ học “nhảy núi” theo cách mạng vì lí tưởng, nhưng cũng có đứa vì lười học bị quở mắng, thậm chí, chặn đánh thầy rồi “nhảy núi”.
Thời gian này anh Nh** là con cậu tôi cũng đang học lớp 12 ngoài thị xã Quảng Ngãi. Khi ấy đang học trung học thì có thẻ học sinh và tạm hoãn quân dịch. Hằng tuần anh vẫn cưỡi xe đạp về quê và đem theo những quyển sách dày cộm, Khi nghĩ hè thì mang về cả thùng sách. Bởi vậy tôi có điều kiện đọc được nhiều sách giáo khoa thời ấy. Sách lịch sử thì chỉ nói chung chung về khởi nghĩa tháng 8 – 1945 giành chính quyền, về quân kháng chiến Việt Nam thắng quân Pháp ở Điện Biên Phủ, mà không hề nói ai là người lãnh đạo làm nên các chiến thắng đó. Giai đoạn chiến tranh sau 1954 không thấy nói đến.
Về Văn học thì thấy học chỉ toàn các tác phẩm văn học lãng mạn của nhóm Tự lực Văn Đoàn như các tiểu thuyết: Đoạn tuyệt, Hồn bướm mơ tiên, Nữa chừng xuân, Anh phải sống, Đời mưa gió… Của các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch lam… Trong các tác phẩm này chủ yếu là kể chuyện tình yêu nam nữ, đôi khi cũng có đã phá các hủ tục lạc hậu của chế độ phong kiến, nhưng rất nhẹ nhàng, mờ nhạt. Cũng có một vài nhân vật trong các tác phẩm ấy nói là đi làm cách mạng, nhưng chẳng nói rõ là làm gì? Theo tổ chức nào? Và làm cách mạng để đánh đổ cái gì?
Sau này được học về văn học sử tôi mới biết rằng thời kỳ trước năm 1945 ở nước ta có 3 dòng văn học:
– Dòng văn học Cách mạng: Thơ văn của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu
Phan Châu Trinh…
– Dòng văn học Hiện thực phê phán: Các tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Chí phèo của Nam Cao, Bước
Đường cùng của Nguyễn Công Hoan…
– Dòng văn học Lãng mạn: Các tác Phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…
Tất nhiên Văn thơ của Bác Hồ và Tố Hữu thì không thể có trong sách GK của VNCH rồi, nhưng các tác phẩm yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu trinh, hay dòng văn học Hiện thực phê phán mà không thấy đưa vào nhà trường là một điều thiếu sót lớn của SGK thời ấy. Có thể là tôi chưa học đến lớp đó trong thời ấy, nên có nhận xét chưa hoàn chỉnh. Mong các bác nào học tú tài thời ấy sẽ bổ sung thêm.
Chuyện văn hóa văn nghệ
Về văn nghệ thì lúc ấy thì học sinh hay hát các bài hát yêu đương như bài: Nhớ người yêu, Căn nhà màu tím, Căn nhà ngoại ô… Và một số bài về lính như: Rừng lá thấp, Sương trắng miền quê ngoại, Người em xóm đạo… Thỉnh thoảng ở trường cũng có tổ chức sinh hoạt ngoài trời, văn nghệ ca hát. Những lần như thế tôi thấy một anh lớp 11 hay hát bài “Những đồi hoa sim” và hát hay lắm. Sau đó thấy rất nhiều người cũng thường hát bài này.
Sau này khi biết bài thơ: “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan tôi mới biết bài hát này của DZung Chinh đã viết từ cảm xúc về bài thơ của Hữu Loan. Cả bài thơ và bài hát đều thật tuyệt
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 17. Năm 1974 và đêm văn công giải phóng
Tập sau: Tập 19. Lớp học trường làng
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


