Trang chủ Ký ức

Ký ức xa quê

Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 21: Đêm cuối cùng của cuộc chiến

· 17 phút đọc

FacebookThreadsX
Xóm làng trong đêm, ánh sáng mờ đỏ phía chân trời
Xóm làng trong đêm, ánh sáng mờ đỏ phía chân trời. Ảnh minh họa.

Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 21/23, thuộc Phần 5 – Ngày đoàn tụ. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.

Mùa xuân toàn thắng

Xuân 1975, có lẽ là một mùa xuân vui vẻ và thanh bình nhất trong các mùa xuân đã đi qua thời chiến tranh ở quê tôi. Trước tết và sau tết cả tháng trời mà không khí vẫn yên bình. Năm nay, ngoài cây bông vạn thọ mà hầu như nhà nào cũng có trồng, còn có thêm các loại hoa khác như mào gà, hướng dương, bông giấy… Nhiều nhà còn gắng chạy đi xa để xin một nhành mai về cắm lên bàn thờ cho không khí những ngày xuân thêm ấm cúng.

Ngoài chợ thì không có bán hoa như bây giờ, nhưng bày bán đủ loại thực phẩm cũng như vật dụng phục vụ cho ngày tết. Năm nay có bán cả những loại nhang khoanh tròn treo trước bàn thờ cháy cả đêm. Trẻ em được cha mẹ sắm cho những bộ đồ, những đôi giày mới, có em gái còn được đánh phấn và thoa son lên môi, cột hai bím tóc nhổng sang hai bên, tay thì cầm nhiều bong bóng xanh đỏ đi chơi xuân bên người lớn, mặt mày vui tươi hớn hở, đôi má đỏ lên trong nắng xuân hồng làm cho ta có cảm giác là các em chỉ biết có khung cảnh thanh bình mà chưa hề thấy chiến tranh bao giờ.

Đêm giao thừa thì cũng pháo và súng nổ rầm trời nhưng tiếng súng nghe vui chứ không khiếp sợ như giao thừa mọi năm. Chiều mồng 1 tết, tôi và mấy đứa bạn đi xem văn nghệ ở chùa Ông Hạ** tại thôn Vùng 4. Đây là một ngôi chùa có vài lớp học dạy trong chùa. Học sinh mặc đồ phật tử lên biểu diễn những bài hát ngợi ca tình yêu quê hương đất nước, như bài: Lối về xóm nhỏ, Hòa bình ơi… Rồi đến cái đoạn múa bướm. Những bé gái đóng giả những con bướm, phía sau mỗi em mang một đôi cánh bướm bằng giấy. Khi co tay làm động tác thì những cánh bướm vẫy vẫy trông thật đẹp mắt. Đoạn cuối buổi văn nghệ có sự tham gia của các anh lính sư đoàn 2 đóng trên đồi Chóp Vung bằng một vỡ hài kịch “Hớt tóc”. Một người ngồi trên ghế, người kia cầm cái kéo (bằng giấy) dài gần cả thước, xách cái lược bằng cái bồ cào, rồi lấy cái vá múc canh để ngoái tai…Làm cho mọi người một phen cười nghiêng ngã.

Trên đài phát thanh Sài Gòn thì phát đi phát lại bài hát “Cám ơn”- Một bài hát khá hay, do ca sĩ Duy Khánh thể hiện, Lũ thiếu niên như tụi tôi thì mấy ngày tết chỉ thích bắn bi và chơi bầu cua ăn tiền hơn là đi chơi xuân. Buổi tối mới đi chơi ở các nhà hàng xóm tới khuya mới về. Một cái tết thanh bình hiếm có từ trước đến giờ.

Đêm cuối cùng của cuộc chiến tranh

Sau tết, cuộc sống thanh bình như thế cứ tiếp tục. Ai cũng ngạc nhiên sao bình yên kéo dài lâu thế? Nhưng mọi người đâu có biết rằng cuối tháng giêng năm ấy một đòn sấm sét của quân giải phóng đã giáng xuống Ban Mê Thuộc (10-3-1975) và sau đó địch đã tháo chạy khỏi Tây nguyên. Nhiều người dân không biết, nhưng lính ở đồn Quán Vịt và lính sư 2 đóng trên đồi Chóp Vung đều biết sự kiện ấy.

Sáng hôm đó tôi về nhà nội ở Thiệp Sơn để ăn chạp. Ngày ấy giỗ chạp cũng nấu nướng đơn giản, có thịt gà, cá kho, và gỏi đu đủ, ăn với cơm và canh, bánh gói (bánh dày) là loại bánh không thể thiếu trong các ngày giổ khi bình yên. Thức ăn được đựng trong những cái dĩa chút xíu và canh thì đựng trong cái tô loe ra giống như cái loa nhưng cũng chỉ được hơn một chén canh. Ngày giỗ thì mới được ăn cơm trong những cái chén màu trắng gọi là chén mỏng và những đôi đũa bằng gổ mun màu đen, đó là những vật quí giá. Ngày thường thì chỉ dùng chén đất màu sẫm và đôi đũa tre. Mọi người ăn uống vui vẻ và bàn luận về cảnh thanh bình lâu dài trong thời gian qua mà tôi đâu biết rằng chiều đó mình bị một trận pháo kinh hoàng sém chết.

Chiều hôm ấy tôi chơi đến 5h mới ra về cùng hai anh con bác là anh Dưỡ** và anh Chá**. Anh Dưỡ** đi 1 xe đạp, anh Chá** chở tôi trên 1 xe. Khi về đến xóm 28, định quay vô nhà các anh ở lại đêm thì nghe tiếng loa ở đó phát ra thật to.

– Hỡi anh em binh sĩ VNCH! Mặt trận giải phóng đã làm chủ khắp nơi, mọi người hãy buông súng trở về với nhân dân. Toàn Miền nam đã nổi dậy. Hỡi anh em binh sĩ…

Tiếng loa chỉ nói được vài lần thì từng tràng đại liên trên đồi Chóp vung nã đạn chiu chíu xuống hai bên mép đường. Anh em tôi hoảng quá cưỡi xe chạy thẳng xuống Vùng 4. Khi nãy ra đến đường Cái Mới, tôi vẫn thấy một người lính sư đoàn 2 đang xách nước tắm ở một cái giếng nơi nhà dân, còn ban ngày mà mấy ông giải phóng đã tập trung quanh đây rồi sao? Bổng “Ầm, ầm!” pháo 105 từ thị trấn Đồng Cát bắn vào tới tấp. Chúng tôi đạp xe chạy nhanh, một quả đạn nổ chát chúa sáng lòa trước mặt, chỉ cách chúng tôi 7m, mãnh đạn bay rào rào vào mái tôn, nhưng kì lạ thay cả 3 anh em chúng tôi không hề hấn gì, còn xe đạp thì sau này xem lại bị mấy lổ. Cả ba chúng tôi bỏ xe đạp chạy bộ, tôi và anh Chá** chạy dạt vào một cái nhà ven đường, những trái pháo khác nổ tới tấp chung quanh, tiếng nổ rung chuyễn mặt đất làm một cái giỏ chiên (bằng tre) bay lên cao mấy mét. Hai chúng tôi chạy quanh nhà để kiếm miệng hầm. Kiếm được miệng hầm của nhà đó và chui vào thì đã thấy đông nghẹt người núp trong ấy. Anh Dưỡ** thì chạy lạc đâu mất. Tôi lo quá, chắc anh đã trúng pháo chết rồi.

Bị pháo nhiều lần, nhưng lần nầy vẫn sợ xanh mật. Vì đó là một căn hầm lạ, đơn sơ hơn nhiều so với căn hầm Đờ Cát của ông ngoại tôi. Mỗi lần pháo nổ gần là đất trên nóc hầm lại rơi xuống rào rào. Một người đàn bà ngồi cúi đầu chắp tay trước ngực run rẫy nguyện cầu mà mọi người đều nghe rõ.

– Xin Cậu Trạng hãy độ trì cứu giúp, hãy lái những trái đạn ra xa căn hầm để cứu mọi người.

Khi có quả pháo nổ rất gần, thì bà lại nói.

– Xin Cậu! Cho nó nổ xịch ra một xíu nữa đi. Cậu Trạng ơi, hãy cứu mọi người.

Sau này tôi mới biết người đàn bà đó là bà Tư. Bà Tư có đứa con trai tên là Trạng đã chết từ bé. Trước đó hơn 1 năm, tự nhiên nghe đồn rằng cậu Trạng đã nhập vào xác bà Tư nói linh thiêng lắm. Người dân trong vùng thường hay đến xin Cậu Trạng ứng lên để hỏi về gia sự, các cô gái thì hay đến để hỏi về đường tình duyên và Bà Tư cũng hành nghề “Lên đồng” từ đó. Tôi cũng nghe nói nhiều chứ chưa gặp bà bao giờ. Hôm nay có bà trong hầm, nhiều người cảm thấy yên tâm hơn. Nhưng sao Bà Tư lại cầu cho trái đạn nổ xịch ra một chút. Xịch ra một chút nữa thì hầm mình an toàn nhưng sẽ trúng vào hầm của những nhà hàng xóm thì sao? Lúc này pháo vẫn bắn ầm ầm, Nhớ lại khi học tiểu học ở trường TIN LÀNH, cô Lu** dạy giáo lí có giảng nhiều lần về việc ta cầu nguyện Đức chúa Trời để được che chở khi gặp những hoạn nạn trong đời. Dù không mấy tin tưởng vào Chúa, nhưng lúc này sợ quá, tôi cũng chắp tay lên trán và lầm rầm đọc những câu nguyện cầu: “xin Chúa che chở cho con”.

Đợt pháo bắn khoảng 30 phút thì chấm dứt, nhưng mọi người chưa ai dám chui ra khỏi hầm, vì sợ nó bắn tiếp. Chờ một thời gian lâu nữa vẫn không thấy gì, lúc đó mọi người mới chui ra, ra ngoài không khí dễ chịu làm sao. Lúc này trời đã tối hẳn, tôi và anh Chá** chạy nhanh ra đường để tìm anh Dưỡ**. Vừa chạy vừa kêu tên anh, chạy rộng ra những nhà hai bên đường thì gặp anh cũng vừa ở căn hầm nhà ông Quả** chui ra và đang chạy tìm kiếm hai đứa tôi. Khi pháo nổ tấp nập thì tôi và anh Chá** chạy dạt vào phía nam, còn anh chạy ra hướng bắc của đường Cái Mới. Ba anh em gặp nhau mừng quá và về lại nhà ông Quả**, ngồi lại đây chờ cho trời sáng.

Đêm ấy – mà hơn một tháng sau tôi mới biết đó là đêm cuối cùng của cuộc chiến – Một đêm dài như vô tận, một đêm mà lần đầu tiên trong đời tôi thức trắng. Hai vợ chồng ông chủ nhà cũng thức trắng cùng 3 chúng tôi. Mọi người lo sợ không biết nó còn bắn pháo nữa hay không? Không ai có đồng hồ nên sau một lúc thật lâu thì không biết lúc này là mấy giờ. Nhìn chân trời phía đông có màu đo đỏ cứ nghĩ rằng bình minh sắp ló dạng, vài lần như vậy mà trời vẫn chưa sáng. Sao mà trời lâu sáng thế nhỉ? Cuối cùng thì trời cũng sáng hẳn, nghe bên ngoài đường có nhiều tiếng người đi lại, chúng tôi chạy ra đường thì nghe nhiều người nói.

– Lính đã bỏ chạy hết rồi!

– Lính ở đồn Quán Vịt chạy rồi à?, Đồi Chóp Vung vẫn còn lính trên ấy chứ?

– Chạy hết rồi!

Chiều hôm qua tôi vẫn còn thấy một người lính sư đoàn 2 đang đi tắm ở dưới xóm và đêm qua, sau đợt pháo thì chẳng nghe đánh đấm gì nữa. Qua một đêm mà sao thay đổi nhanh thế? Chúng tôi đi ngược lại chổ quăng xe đạp hồi hôm thì hai chiếc xe vẫn nằm đó, một chiếc bị mấy mãnh đạn vào sườn xe, quả pháo nổ chỉ cách 5-7m bay một vạt bên mép đường nhựa tạo thành cái hố nhỏ như chiếc mủng con. Thật là hú vía. Đêm cuối cùng của cuộc chiến mà chết thì thật là oan uổn lắm. Dựng xe lên để đi về nhà thì thấy một đoàn người đi tới. Ồ! Lính sư đoàn 2, người thì ở trần, người thì mặc quần đùi, người thì mặc áo lính có số 2 trên vai, đi sau là hai người du kích áp tải. Hỏi thăm mấy người dân đi sau thì họ kể rằng đêm qua trên đồi Chóp Vung lính đã bỏ chốt, mạnh ai nấy chạy. Đa số là cởi bỏ hết quần áo lính, bỏ hết súng đạn, chạy loạn xạ băng đồng mỗi tốp 5 – 7 người. Một số thì bị du kích bắt, một số thì đang chạy lạc trốn trong dân.

Trên đường về nhà, từ đường Cái Mới đến QL1, người dân đổ ra đường rất đông, gương mặt ai cũng hồ hỡi, vui vẻ nói cười kể lại chuyện tháo chạy của lính ngụy đêm qua. Chiều hôm ấy lại nghe tiếp tin ở thị trấn Đức Phổ và thị xã Quảng Ngãi quân ngụy cũng rã ngũ hoàn toàn. Đêm ấy, đêm đầu tiên của ngày giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi (24-3-1975) mọi người đổ ra đường QL1 như một đám hát. Từng tốp, từng tốp người đi qua đi lại trên đường, từng nhóm, từng nhóm người từ trẻ em, phụ nữ đến cả những cụ già cũng ra ngồi giữa đường lộ bàn luận rào rào chuyện thời sự. Vài ba đêm sau, trên đường QL1 người ta vẫn ngồi chơi đông nghịt như thế. Tôi cùng vài đứa bạn trong xóm lấy xe đạp chạy đi chơi. Lần đầu tiên đi xe đạp ban đêm. Ồ! Trời tối thui mà vẫn cưỡi xe được. Ra tới Mộ Đức, rồi vòng vào Trà Câu, ở đâu cũng thấy nhiều người đi chơi ngoài đường. Một vài điểm có đông dân cư thì tổ chức mitinh mừng ngày giải phóng, cũng có cái bàn với ảnh Bác Hồ và lá cờ Mặt trận với một người cán bộ giải phóng nói chuyện, quang cảnh nhộn nhịp hơn hồi giải phóng năm 1972.

Tử hình hai tên ác ôn

Vài ngày sau, vào một buổi trưa, Tôi đang đi xe đạp đến nghã ba QL1 và đường Cái Mới thì thấy có đông người đang đứng bàn tán chuyện gì đó. Dừng lại thì nghe họ nói du kích vừa bắn chết ông Đ* Cậ* ở trong cầu Vinh Hiển. Tôi chạy vào xem thì xác chết đã được khiên đi đâu mất rồi.

Trước đó hơn 1 năm, có một vụ án làm xôn xao cả huyện Đức Phổ. Ở cầu Bàu thuộc xã Phổ Cường, những người đi làm đồng phát hiện ra một cái bao bố to, đựng vật gì mà cột miệng nổi dập dờ dưới chân cầu, mở ra xem thử thì tá hỏa khi thấy có cái xác của một người con gái nằm trong bao. Cảnh sát ngụy mở cuộc điều tra và đã tìm ra thủ phạm là ông Đ* Cậ*. Vào khoảng những năm 1966 -1967, khi vùng giải phóng được mở rộng, cách mạng đã chiếm lấy một số ruộng công điền của chính quyền ngụy để cho du kích xã canh tác lấy lương thực nuôi quân. Tên Cậ* lúc đó đã làm tay sai cho giặc. Khi đến kỳ thu hoạch, hắn thuê người lên gặt lúa ở một số ruộng ấy. Sau đó du kích ban đêm đã đột nhập vào nhà và bắt hắn. Đợt đó ngoài tên Cậ* ra cũng có bắt được vài tên lính dân vệ cùng đem lên giam giữ tại Bình Mỹ. Sáng hôm ấy, các tù binh phải mài rựa để chiều chuyển lên cứ trên núi đi lao động cải tạo. Trưa đó, các tên lính dân vệ đều bị trói tay, tên Đ* Cậ* cũng đã có tuổi và không phải là lính cho nên không phải trói. Mấy người cán bộ khác thì bận đi công tác một lúc, chỉ có một mình anh Sữ* là du kích xã cầm súng canh gác. Do chủ quan và bị sốt rét nên anh Sữ* nằm gác tay lên trán lim dim. Tên Cậ* thấy thế liền quơ ngay cây rựa bổ từ trên xuống, lưỡi rựa mới mài bén quá nên cánh tay bị đứt lìa, phạm xuống tới mặt. Anh Sữ* rú lên và do quá bất ngờ, những tên lính bị trói tay cũng kinh hoàng, la ó lên inh ỏi. Tên Cậ* cầm rựa lao ra chạy thẳng một mạch xuống tới QL1, chạy vào trong quận báo cáo thành tích rồi ở luôn trong đó, chẳng dám về xã. Mọi người lao đến thì hắn đã chạy xa.

Năm 1968, bộ đội tấn công vào thị trấn bị thất bại. Hai người bộ đội kéo thương binh và xác của đồng đội lạc vào vườn nhà hắn ở sát chi khu, thấy thế hắn ném lựu đạn ra làm những người còn sống cũng chết luôn. Sáng hôm sau hắn vào quận lỵ báo công vơ cả thành tích về cho mình. Đợt đó hắn được thưởng huân chương “Anh dũng bội tinh”. Từ ngay có huân chương hắn lại càng thêm tự đắc, xem thường luật pháp, tay càng thêm nhúng vào máu. Vài năm sau, tên Cậ* có một người con gái đã có chồng là một sĩ quan ngụy và ở chung nhà với hắn. Trong nhà còn có cô cháu bên vợ của hắn ở trọ. Thấy cô cháu gái trẻ đẹp, nên người con rể ấy cứ theo quan tâm săn đón. Sợ rằng thằng rễ theo cô kia mà bỏ rơi con gái mình, nên vào một đêm, tên Cậ* đã giết chết cô cháu gái bằng một mãnh ván chẹn ngang cổ cho nghẹt thở. Hành sự xong, hắn cho vào bao bố chở đi thật xa, ném xuống cầu để cho dòng nước trôi ra biển, nhưng rủi thay gặp chổ nước xoáy, cái bao bố xác người ấy quần trở lại và bị phát hiện, cộng thêm việc tên sĩ quan con rễ bị mất tích người tình, nên cũng đâm ra tố cáo hắn, rồi hắn bị cảnh sát bắt ra tòa án và chịu án tù ngoài nhà lao Quảng Ngãi. Ngày giải phóng an ninh huyện đã ra tận nhà lao để bắt hắn về.

Mặt dù đã biết có chính sách khoan hồng của cách mạng, nhưng cùng ngày hôm ấy du kích xã Phổ Thuận đã tử hình tên Đ* Cậ* ở tại cầu Vinh Hiển và tên Dươ** Gi** tại cầu Chợ Chiểu vì hai tên nầy có quá nhiều nợ máu với nhân dân. Còn tên xã trưởng Lươ** Hoà** cũng có nợ máu, nhưng ít hơn nên chỉ đi học tập cải tạo một thời gian rồi về. Năm 78 – 79, trên đường đi học tôi vẫn đi ngang qua nhà ông Lươ** Hoà**, không thể nào nhận ra ông ấy được. Từ một người to lớn, mặt lúc nào cũng đỏ gay, hét ra lửa, mà bây giờ như một gã xì ke, hằng ngày đứng xay bột cho vợ tráng bánh. Vài năm sau do thối chí và mặc cảm tội lỗi nên ông cũng mất sớm. Còn hiện nay, những lần đi họp gia đình liệt sĩ tôi vẫn gặp bà X. Lúc đầu nghe mấy người nói đó là vợ của ông Dươ** Gi**, tôi rất ngạc nhiên.

– Ủa! Vợ của tên ác ôn Dươ** Gi** mà sao lại đi họp và lãnh tiền phụ cấp liệt sĩ?

Thì ra đây là bà vợ sau của ông Gi** và có hai con trai với ông ta. Bà X. đời chồng trước có một cô con gái tham gia du kích và đã hy sinh nên bây giờ bà vẫn hưởng trợ cấp của người con liệt sĩ ấy.

Đọc tiếp

Tập trước: Tập 20. Cuối năm 1974
Tập sau: Tập 22. Ngày đoàn tụ
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa

Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.

Chia sẻFacebookThreadsX

Cùng chuyên mục