Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 22: Ngày đoàn tụ
· 20 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 22/23, thuộc Phần 5 – Ngày đoàn tụ. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Vài ngày sau cái đêm kinh hoàng cuối cùng của cuộc chiến tranh trên quê hương, tôi nghe trên đài phát thanh và nhiều người bàn tán về những tin chiến sự ác liệt ở Đà Nẵng. Rồi Đà nẵng cũng được giải phóng (29-3-1975).
Khoảng một tuần sau thì xe ô tô của quân giải phóng ở trên đường Trường Sơn bắt đầu đổ xuống QL1 nườm nượp. Xe ô tô, xe pháo, xe tăng đủ loại, xe nào cũng đầy nhóc bộ đội, trên xe cắm thật nhiều cây lá ngụy trang. Ô kìa! Lạ thay, xe nào cũng chỉ có 1 con mắt (1 đèn pha). Nhiều khi cưỡi xe đạp đi ban đêm cũng sém bị xe một mắt này tông, vì cứ nghĩ cái con mắt đang sáng ấy là ở phía gần bên mình nên chỉ đi cách nó khoảng 1-2m. Sau này tôi mới hiểu là trên tuyến đường Trường sơn bị địch đánh phá ác liệt nên chẳng có xe nào còn đủ hai mắt cả. Dòng xe trên QL1 hầu như chỉ có một chiều xuôi về nam.
Hàng ngày trên đài Hà Nội và Sài Gòn, Đài phát thanh Giải phóng, Đài BBC liên tục đưa những tin tức nóng hổi về chiến sự, nghe cả một bài diễn văn dài của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu từ chức với lời lẽ uất ức kết tội đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ rơi VNCH. Tin quân Giải Phóng đã làm chủ Qui Nhơn, Tuy Hòa, Cam Ranh…
Khoảng giữa tháng 4 – 1975 thì trên đường QL1 xuất hiện nhiều chiếc xe rất dài, mỗi chiếc xe chỉ chở một trái hỏa tiển to khủng khiếp. Ai nhìn cũng lo sợ cho một trận chiến tàn khốc ở Sài Gòn. Mẹ tôi nhìn những trái đạn khổng lồ ấy thì cứ chép miệng lo lắng cho số phận của chị tôi và bà con trong ấy. Ở Sài Gòn không có hầm hào thì khi đạn pháo nổ biết chạy trốn ở đâu?
Ngày 30 tháng Tư
Một buổi trưa, nghe nhiều người la lên.
– Sài Gòn đã giải phóng rồi!
– Nghe tin ở đâu thế?
– Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh
Tin thức giải phóng sài gòn cư thế lan truyền hết người này đến người khác. Mọi người chạy đến nhà nhau để báo tin, cùng bàn luận sôi nổi. Những nhà có radio thì vặn hết cỡ cho mọi người cùng nghe tin tức từ Sài Gòn. Từ em bé đến các cụ già, gương mặt ai cũng ngời ngời phấn khởi. Hòa bình đã đến vĩnh viễn rồi, không còn sợ cảnh bom đạn nữa rồi. Vui quá! Chưa có một ngày nào vui hơn hôm nay! Ngày 30-4-1975 lịch sử.
Chiều tối ngày hôm đó và suốt mấy ngày hôm sau đài Hà Nội liên tục phát đi bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và bài hát “Bảo nổi lên rồi”. Lời nhạc của hai bài hát bừng bừng khí thế của ngày vui giải phóng, một ngày vui thống nhất mà phải trải qua 30 năm máu lửa, hôm nay mới có được.
Hòa bình rồi, nhưng trên đường QL1 từng đoàn xe quân sự vẫn chở bộ đội xuôi vào nam suốt cả tháng sau đó. Tháng sau thì từng đoàn xe đò chạy ngược lại từ nam ra bắc, trên trần xe chở đủ thứ, nào là bàn ghế, giường tủ… Của những người dân hồi hương về quê quán. Chị tôi và các cô cũng đã về, Mợ Chín và các em từ Plieku cũng trở về nhà ông ngoại tôi. Mợ kể lại cảnh tượng kinh hoàng trên đoạn đường Plieku – Phú Bổn trong cuộc triệt thoái khỏi tây nguyên của quân đoàn 2 ngụy. Cảnh xe tăng cán nhào cả lên xe jeep, xe nhà binhh cán bừa cả lên người dân để tháo chạy. Một mình mợ với 4 đứa con sợ quá đành quay lại. Nếu hồi đó chạy tiếp thì mấy đứa nhỏ có khi đến bây giờ vẫn còn mất tích. Còn cậu Chín là sĩ quan thiết giáp lúc đó đang đi học ở Đà Lạt, không biết bây giờ ra sao. Một người cậu Út của tôi là sĩ quan Hải quân cũng chẳng biết tin tức gì.
Những cuộc đoàn viên
Mấy ngày sau, mẹ và các anh chị em tôi dọn nhà trở về quê nội ở thôn Thiệp Sơn. Về đây trước tiên là che một mái tranh để nghỉ tạm, dẫy cỏ tranh xung quanh bắt đầu một cuộc sống mới. Nhiều người từ Sài Gòn cũng đã chuyễn đồ đạc về trên nền nhà củ với cỏ tranh ngút ngàn. Từ đây tôi đã thấy những cuộc đoàn viên đầy cảm động.
Cô Dò*, từ trên núi trở về với một bộ đồ bộ đội và một cái ba lô để gặp lại người mẹ già. Sau 6 năm cô bặt tin, mọi người tưởng cô đã chết rồi. Những người từ Miền bắc cũng lần lượt trở về, lần đầu tiên tôi mới biết được cái từ “Tập kết”. Ông Sáu nhà ở kế bên vườn nhà tôi trở về sau 21 năm và đã gặp lại anh Thưở** là người con trai đầu với người vợ trước. Mẹ của anh đã mất trong chiến tranh. Bao năm côi cút rồi đi theo du kích xã, bây giờ anh đã gặp cha. Cha anh mang về thêm sáu người em cùng bà mẹ kế. Thời gian đầu bà Sáu lên rẫy thường mang đứa con út trên vai, làng xóm ai cũng nhìn bà chăm chăm, nực cười khi thấy cái hình ảnh như vậy. Trước khi về nam, gia đình ông Sáu ở Tuần Giáo – Lai Châu cho nên có tục lệ giống phong tục của người thượng ở miền tây Quảng ngãi. Sau đó thấy hơi khác người ở đây nên bà sáu không địu con trên lưng nữa.
Trưa hôm đó, có một người đàn ông đội nón cối, mặc aó trắng, mang túi xách, chân đi đôi dép giống như dép cao su nhưng bằng nhựa, tìm đến nhà ông nội của tôi. Ông bà tôi ngỡ ngàng, cố nhớ lại xem thử là ai.
– Cậu mợ không nhận ra con sao?
– Thằng Ba Cà* đó phải không?
– Dạ! Cậu mợ vẫn mạnh giỏi, Các chú, các cô thế nào hả cậu?
– Trời ơi! 21 năm rồi, tao tưởng chẳng khi nào gặp lại tụi bây
Ông tôi nắm chặc tay người cháu – Người anh con bà cô của ba tôi, mà bây giờ tôi mới được biết – Giọng ông nghẹn ngào, không nói nên lời, kéo tay bác Ba Cà* ngồi xuống thềm nhà và kể lại chuyện chiến tranh máu lửa ở quê hương trong 21 năm qua, kể lại chuyện cái chết đau đớn của ba tôi và bác Hai tôi. Kể lại chuyện gia đình của bác bị bắt chụp hình li khai với cộng sản, trong chiến dịch “Tố cộng”của Mỹ – Diệm. Kể lại chuyện chị ruột của bác Ba là cô Lư** bị chết trong hầm do giặc Mỹ ném lựu đạn, mà suốt 4 ngày sau khi Mĩ rút đi, mọi người mơí về khui hầm ra chôn vội vàng trong tiếng pháo ầm ì, khi cái xác đã phân hủy. Kể đến đây thì cô Sáu – em ruột của bác Ba Cà* – nghe tin người anh trai về, đã chạy từ đồng đến nhà nhào vô ôm lấy bác Ba khóc nức nở. Hai anh em gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, rồi bác lại nghẹn ngào khi hay tin người mẹ của mình đã chết từ năm 1971. Mấy ngày trước, mỗi khi ăn cơm cô Sáu cũng thường hay khóc vì người chồng lính ngụy chạy loạn ở Đà Nẵng đến bây giờ vẫn bặt tin. Hôm nay cô lại khóc vì vui mừng được gặp lại người anh trai sau 21 năm dài đằng đẵng.
Thời gian này ở trên khắp Miền nam có biết bao nhiêu cảnh đoàn tụ trong nước mắt như thế. Có nhà thì được đoàn tụ sum vầy sau nhiều năm li loạn bởi chiến tranh, cũng có nhà thì li tán, mất tích do chạy loạn khi quân giải phóng mở cuộc tổng tấn công. Nhưng dù trong mất mát riêng của mỗi gia đình thì ai cũng xem đây là ngày đoàn tụ, một ngày đoàn tụ lớn của cả dân tộc, nam bắc đã một nhà, núi sông đã liền một dãy. Một ngày vui thống nhất sau 30 năm.
Ngày đoàn tụ là ngày vui lớn nhưng cũng có khi lại gặp những nghịch cảnh éo le. Có trường hợp người vợ nghe tin người chồng đi thoát ly của mình đã chết, sau đó ghá nghĩa với người chồng mới là lính ngụy. Ngày thống nhất, người chồng củ trở về thì trên danh nghĩa cả hai người đều là chồng. Trường hợp này thì thật là khó xử. Bộ phim “Về nơi gió cát” khởi chiếu những năm đầu sau giải phóng đã phản ảnh đúng những tình huống trớ trêu có thật trong ngày đoàn tụ ở Miền nam cũng như ngay trên quê hương của tôi.
Hai bà vợ của bác Ba
Hôm ấy là một buổi liên hoan mừng ngày gặp lại của gia đình bác Ba Cà*. Anh chị em chạy loạn chiến tranh ở Sài Gòn cũng đã hồi hương đầy đủ. Những người bà con nội ngoại cũng được mời đến khá đông. Từ sáng sớm những người phụ nữ đã lo đi chợ, nấu nướng, Bác Ba thì lấy mực viết trên tấm vãi trắng dòng chữ:
– Mẹ ơi! Chúng con đã trở về.
Rồi cột lên đầu một cây nêu (đoạn tre dài có lá) đem cắm lên phần mộ của người mẹ đã mất trong chiến tranh. Người vợ củ của Bác hôm ấy xách theo một xách bún cũng về dự họp mặt. Vừa vào đến nhà thì mọi người cũng niềm nở chạy ra mời chào.
– Ồ! Chị Ba mới về
Bác Ba gái mới cũng mới từ Hà Nội về hôm trước, đang ngồi trong nhà thấy thế liền nổi cơn ghen lên rồi nói.
– Chị Ba gì mà nắm (lắm) chị Ba thế?
Nói rồi nghoe nguẫy đứng dậy, mặt đỏ bừng bỏ đi một mạch vào nhà hàng xóm nằm nghỉ. Mọi người chạy theo khuyên giải thế nào cũng chẳng thèm ra dự đám tiệc. Bác Ba cũ thì ở lại dự tiệc nhưng cũng chẳng vui vẻ gì. Chỉ có Bác Ba trai là kẻ đứng giữa nên khó phân xử nhất. Thôi thì mọi chuyện éo le nầy có ai gây ra đâu, tất cả đều do chiến tranh gây ra cả. Qua cuộc chiến mà còn sống để gặp lại nhau dù chỉ một lần thì cũng là điều đáng quí lắm rồi.
Chung tay xây dựng lại xóm làng
Mùa hè năm 1975, một mùa hè hòa bình thật sự vĩnh viễn trên toàn cõi đất nước Việt Nam. Giờ đây hầu hết mọi người đã về quê củ và cùng nhau bắt tay xây dựng lại quê hương sau những năm dài bị chiến tranh tàn phá. Hòa theo không khí đó, ở xã Phổ Thuận quê tôi cũng bắt đầu hồi sinh từ những làng quê hoang tàn đổ nát. Dưới trời nắng như đổ lửa của mùa hè, nhiều người đang khuân vác những vật dụng như bàn ghế, giường tủ từ trên xe đò xuống, Một số người đi tập kết, đi thoát ly cũng đã về, những anh lính ngụy rã ngũ ở các nơi cũng tìm về quê và được chính quyền gọi đi học tập 1-2 tuần tại xã.
Công việc đầu tiên là mọi người “đi núi”. Tức là lên dãy Trường sơn chặt những cây to về làm nhà. Nhà ai cũng làm một kiểu giống nhau, sườn chống đỡ toàn bộ căn nhà là cái giàn xương phương. Giàn xương phương là một cái khung như hình hộp chữ nhật, gồm 4 cây cột, 2 cây trính, 2 cây xiên gắn cố định với nhau bằng lỗ mộng. Trên giàn xương phương là các bộ kèo, đòn tay, tạo ra 4 mái để lợp tranh hoặc lợp tôn. Bên ngoài bao quanh nhà người ta dựng những cây gỗ nhỏ lớn hơn ngón chân cái gọi là cây mầm để chống đỡ các đầu kèo, nối các cây mầm vòng quanh nhà là các cây trĩ bằng miếng tre chẻ nhỏ tạo lưới ca rô để trét đất lên ấy làm vách tường.
Mỗi đêm trăng sáng, mọi người trong xóm đi ghánh đất ruộng về cho một nhà để làm đất trét. Đất ruộng dẻo trộn với rơm ngâm nước, lừa trâu bò đi vòng quanh đạp cho lộn nhào thật nhuyễn rồi mới trét lên giàn mầm trĩ tạo thành vách nhà, trét xong thì dùng đất bột ướt để tô bên ngoài cho láng, thế là ta có một vách tường kín đáo mà sạch sẽ. Nó ưu điểm hơn vách lá của căn nhà ở nam bộ vì ăn trộm không thể qua tường vào nhà. Vách đất như thế rất nhẹ, chỉ có tác dụng che kín ngôi nhà, thế nhưng do không hiểu biết kết cấu về lực mà nhà nào cũng sợ xuống vách nên ban đêm thường đi ghánh trộm đá của đường xe lữa về đầm xuống móng trước khi làm vách đất. Việc làm cái giàn xương phương thì chỉ tốn vài công thợ mộc, các công việc còn lại thì các nhà vần công lẫn nhau nên làm được một căn nhà như thế cũng không tốn là bao.
Lúc nầy các đoàn thể cũng đã được thành lập, trước tiên là đoàn thanh niên của thôn, sau đó đội thiếu niên tiền phong, hội nông dân, hội phụ nữ…
Buổi họp đầu tiên ở đình làng
Tối hôm ấy, khi trời vừa tối thì ở đình làng, ai đó đã đánh lên một hồi kẻng, sau đó đánh tiếp nhiều hồi nữa. Hôm nay là cuộc họp đầu tiên của toàn thể nhân dân thôn Thiệp Sơn. Ai cũng hồ hỡi đi ra đình làng để họp. Đình làng khi xưa bằng ngói uy nghi với những cây cột tròn bằng gạch rất to, hai bên cổng có hai con sư tử nhe răng, trước sân có mấy tượng thần đội mão mang gươm trông thật dễ sợ. Nhưng giờ đây đình làng chỉ còn là đống gạch vụn. Mọi người đi họp rất sớm, tìm gặp lại người quen, ngồi trên những đống gạch để hàn huyên tâm sự sau những năm dài xa cách.
Từng tốp người ngồi ở từng góc trên khắp sân đình hút thuốc, nói chuyện rào rào. Ở một góc nọ thì nghe anh Vi** là lính dù đang kể oang oang về những ngày cuối tháng 4 tiểu đoàn anh bị đánh tan tác ở Dầu Giây, mọi người chạy tứ tán, anh chạy lạc vào trốn trong nhà một bà già và nhờ bà đưa ra trình diện với quân giải phóng. Ở chổ kia thì nghe các anh du kích kể lại chuyện đánh lính Mỹ, lính Biệt động mỗi khi chúng đi càn. Đêm nay tôi mới được biết mặt chú Bá** – Người xã đội trưởng, người bí thư đảng ủy – Trong những năm chiến tranh đã tổ chức gài mìn phục kích trên đường Cái Mới, trên QL1 làm vài chục tên lính Mỹ thiệt mạng. Tôi cũng được biết chú Cố** là trưởng ban an ninh xã Phổ Thuận, người bị lính Mỹ bắn hụt ở khoảng cách 10m, người có nhiều sáng tạo trong cách đào hầm bí mật. Chú kể rằng ngoài cách bố trí hầm bí mật thông thường còn có cách bố trí cửa hầm ở dưới lòng sông. Đặc biệt là cách bố trí hầm bí mật dưới giếng đã cứu chú thoát chết trong gang tấc.
Thông thường khi vào trốn dưới hầm bí mật là phải có người ở trên ngụy trang, nhưng hầm bí mật có miệng hầm ở dưới sông hoặc dưới giếng thì người trốn tự ngụy trang. Giếng nước thường được xây bằng những tảng đá. Bố trí miệng hầm bởi hai tảng đá sát mép nước. Khi gặp địch rượt đuổi cấp bách thì leo xuống giếng, đẩy 2 tảng đá vô trong để chui vào. Vào bên trong xong thì đẩy 2 tảng đá trở về chổ củ. Địch có nghi nghờ nhìn xuống giếng cũng không thể nghĩ ra tình huống đó, vì các tảng đá vẫn xếp ngay ngắn như các tảng đá khác dưới giếng. Nếu chúng có thả lựu đạn xuống thì vẫn an toàn.
Chuyện trò rôm rả mãi đến gần 8h tối mới đi vào cuộc họp. Ông cán bộ Mặt trận của xã trước tiên tóm tắc những thắng lợi của quân và dân ta cuộc tổng tiến công vừa qua, sau đó kêu gọi mọi người nếu có giữ các loại súng đạn thì hãy giao nộp cho chính quyền cách mạng. Công việc tiếp theo là giao cho tổ chức thanh niên của thôn phải dựng ngay một ngôi trường 2 phòng bằng tranh cho các em có chổ học sắp tới, đồng thời tập dợt văn nghệ để chuẩn bị cho hội diễn của toàn xã chào mừng quê hương giải phóng.
Vài hôm sau một ngôi trường với 2 phòng lợp tranh vách đất được dựng lên ngay trên nền củ của đình làng bằng chính sức lao động của chi đoàn thanh niên và người dân trong thôn. Một cuộc họp thiếu niên nhi đồng được tổ chức ngay trong phòng, hôm ấy là lần đầu các bạn ở mọi nơi theo cha mẹ hồi hương nên ai cũng lạ lẫm. Đến phần văn nghệ, tôi xung phong đầu tiên lên hát bài “Cô gái ba Tơ dưới cờ giải phóng”. Thấy tôi dạn dĩ nên chị La* phụ trách chọn tôi làm chi đội trưởng chi đội thiếu niên tiền phong của thôn. Lúc đầu thì chị La* điều khiển cuộc họp, sau đó thì tôi tự động tổ chức và điều khiển, không cần anh chị phụ trách nữa.
Bình dân học vụ
Việc đầu tiên của thanh thiếu niên là tham gia phong trào “Bình dân học vụ”, đi dạy cho những người chưa biết làm toán và xóa mù cho những người chưa biết chữ.
Tôi và hai bạn nữa được phân công dạy cho chị Lỗ* là người mù chữ. Hằng đêm ăn cơm tối xong là đi đến nhà chị để dạy. Chị Lỗ* đã có chồng và 2 đứa con, trong thời chiến tranh ác liệt, chị ở xã Phổ Phong không có trường học nên chưa biết chữ. Chị cũng tích cực học, nhưng do lớn tuổi nên tiếp thu rất chậm, học đánh vần mà mồ hôi túa ra đầy mặt trông thật vất vã, và chúng tôi cũng rất mệt nhọc. Những đứa dạy những người đã biết chữ thì khỏe hơn. Sau vài tháng thì chị cũng đã biết đọc, biết viết. Ngoài phong trào Bình dân học vụ, tôi còn tổ chức cho đội đi ghánh đất đổ nền nhà để gây quĩ, dùng tiền đó để mua quà tặng các anh thanh niên lên đường đi bộ đội, tổ chức các buổi hái hoa dân chủ, đi cắm trại.v.v…
Những đêm họp thiếu niên, tôi phải cưỡi xe đi các xóm triệu tập từ chiều, tối đến mình phải bưng cái đèn hột vịt ra trường Đình từ sớm để đánh kẻng thúc dục các bạn. Đèn, dầu, bút viết là tự sắm chứ chẳng hề đụng một xu vào tiền quĩ của đội. Chi đoàn thanh niên thì họp hành, sinh hoạt phong phú hơn đội thiếu niên. Đêm nào cũng vậy, khi trời vừa sập tối thì chiếc kẻng trên đình làng lại vang lên thúc dục mọi người. Những bài ca cách mạng có nhịp điệu hùng mạnh như các bài: Kết đoàn, Bác đang cùng chúng cháu hành quân, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Tiếng chày trên sóc Bom Bo…, cho đến những bài hát êm dịu tha thiết hơn như các bài: Trường sơn đông trường sơn tây,, Qua sông, Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng.v.v… Đều được mọi người đón nhận và hát nhiều nhất. Về thơ thì có một bài duy nhất mà nhiều người hay ngâm (hoặc đọc) là bài “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam
Trong sinh hoạt thì hát “Xì điện” là vui nhất. Tức là một người lên hát hết bài hoặc hát cuối một đoạn thì nói tên người tiếp theo mà mình muốn yêu cầu họ hát. Người đó nếu không muốn hát thì hô tên của người khác, cứ thế hô dây chuyền như dòng điện, dòng điện chạy đến người nào mà giật mình ú ớ hô chậm thì người đó phải hát. Nhiều khi một người đang hát, mọi người đang nghe say sưa không để ý, đến khi xì đến tên mình mà vẫn không hay biết. Hát xong rồi đến nhảy sạp. Nhảy sạp là một hình thức múa tập thể rất vui tươi sinh động. Sạp là 2 cây gỗ cố định đặt dưới đất cách nhau khoảng 2m, Có 3 hoặc 5 cặp, mỗi cặp ngồi xổm, 2 tay cầm 2 thanh gỗ gõ xuống cây gỗ dưới đất theo nhịp 1,1,2. Đến nhịp 2 thì 2 thanh gỗ đưa lên nhập lại nhau. Mọi người lần lượt nhảy chân vào những khoảng giữa của cái thanh gỗ và nhảy dần từ đầu nầy qua đầu kia rồi ra ngoài. Nếu nhảy không quen ta sẽ dễ bị kẹp chân khi 2 thanh gỗ nhập lại. Nếu bị kẹp chân thì phải ra ngồi gõ cho người khác vào nhảy.
Những ngày tháng hòa bình đầu tiên ấy khí thế thật sôi nổi, ai ai cũng phấn khởi nhiệt tình trong công tác dù không hề được hưởng một đồng phụ cấp nào. Anh Sữ* khi họp thanh niên lúc nào cũng đến sớm, mỗi khi hát tập thể thì anh đưa cái tay cụt ra đánh qua đánh lại bắt nhịp cho thanh niên trông thật ngộ. Anh O* là thương binh đi cà lỉa đã có vợ 2 con nhưng vẫn tham gia vào đội cơ động (du kích) đi tuần tra hàng đêm để giữ gìn an ninh thôn xóm. Những buổi sinh hoạt anh thường ngồi cầm khẩu súng AR-15, cái mũ cối luôn úp trên nòng súng, thế mà lại rất nhanh, anh chẳng bao giờ bị “xì điện” trúng. Bà Lượ**, bà Th** tuy đã 45 tuổi nhưng những buổi thanh niên tập văn nghệ hai bà luôn có mặt để xem và góp ý.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 21. Đêm cuối cùng của cuộc chiến
Tập sau: Tập 23. Máu đổ giữa thời bình
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


