Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 23: Máu đổ giữa thời bình
· 14 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 23/23, thuộc Phần 5 – Ngày đoàn tụ. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Một nền giáo dục mới
Năm học đầu tiên sau ngày giải phóng đã được khai giảng. Bây giờ trường Tiểu học Tiến Đức đã được tách ra khỏi nhà thờ Tin Lành và trở thành trường cấp 2. Chúng tôi được về học gần nhà, ai muốn vào học lớp nào thì đăng kí vào lớp đó, không cần có học bạ gì cả. Các thầy cô thì một số ít là thầy củ, còn đa số là sinh viên mới học khóa sư phạm cấp tốc và giáo viên từ Miền Bắc tăng viện vào. Lần đầu tiếp xúc với thầy cô mới từ miền Bắc, thấy hơi lạ là thầy hay cô nào cũng đều mặc quần ka ki ống túm và cao tít trên ống quyển, mà chúng tôi hay gọi là “Ống quần chó táp 7 ngày không tới”. Khi đó thanh niên miền Nam thì moden là quần ống loe. Các thầy cô nói rằng nền giáo dục cách mạng không cho phép thầy giáo đánh học sinh, tôi thấy đó là một ưu điểm lớn. Nếu đánh học sinh như trước kia thì cả thầy lẫn học trò bị đánh rất bức xúc, không thể nào còn tập trung vào dạy và học trong giờ hôm đó. Khi xưa, muốn phát biểu thì giơ một ngón tay trỏ, bây giờ thì giơ cả bàn tay. Sách giáo khoa thì nhà trường cho mượn, mỗi tổ được 1 bộ. Sách giấy trắng rất đẹp của nhà xuất bản Giải Phóng – in năm 1973.
Ngày khai trường đầu tiên của niên khóa 1975-1976 chúng tôi được nghe thầy cô đọc: “Thư của Bác Hồ gởi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945”. Đã 30 năm nhưng nội dung của bức thư giống như Bác Hồ gởi cho thế hệ học sinh chúng tôi lúc ấy. Lời lẽ trong thư thật thống thiết và tình cảm, mọi người ngồi nghe như uống từng lời của Bác. Sau này vào những dịp khai trường, tôi cũng có nghe nhiều bức thư của các chủ tịch nước, chủ tịch tỉnh v.v…nhưng không hề gây cho tôi một cảm xúc gì. Có lẽ do hoàn cảnh nước nhà từ trong cõi nô lệ mới dành được độc lập, cộng với tài năng văn chương của Bác, nên đã cho ra đời một tác phẩm hay như thế. Thời tiểu học dưới chế độ cũ có bài giảng văn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh, và niên học này có “Thư của Bác Hồ…” là hai áng văn tuyệt tác đã lưu mãi trong tôi mỗi dịp khai trường.
Về chương trình học các môn khoa học tự nhiên vẫn giống như xưa, các môn khoa học xã hội thì hoàn toàn khác. Ở lớp nào cũng học các tác phẩm hừng hực tính chiến đấu như: Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình, Chị tư Hậu, Bất khuất, Sống như Anh… Về thơ thì học các bài như: Dáng đứng Việt Nam, Nghe tin em vào Đại học, Nhớ con sông quê hương… Đặc biệt là bài thơ: “Trước tờ giấy trắng” của nhà thơ Giang Nam. Bài thơ đã diễn tả thật đúng diễn biến tâm trạng của những người phụ nữ ở miền Nam cũng như ở quê tôi khi bị Mĩ-Diệm bắt viết đơn li khai chồng con đang “nhảy núi” hoặc đi tập kết ở miền Bắc.
Trước tờ giấy trắng
Chị ngồi trước tờ giấy trắng
Hàng giờ không viết một câu…
Lũ quỉ ập vào, dí súng bên hông
Chị vẫn ngồi nghiêm trước tờ giấy trắng.
Lao động là vinh quang
Nền giáo dục mới chủ trương “Lao động là vinh quang” nên tuần nào cũng bắt học sinh đi lao động 2 ngày, thứ 5 và chủ nhật. Việc tham gia bắt chuột hoặc vét mương, làm thủy lợi, hay đi núi chặt cây về làm trường là những điều rất tốt. Nhưng nhiều khi người ta lại vận dụng máy móc câu khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” để bắt ép học sinh làm nhiều việc vô ích. Đó là những việc như: ủ phân xanh, nuôi heo tập thể, lên núi trồng khoai.v.v…
Ở trường nào cũng bắt các lớp hằng ngày cắt lá cây tới để ủ phân xanh giúp nông dân bón ruộng. Phân xanh đâu không thấy mà thấy sau trường vương vãi từng đống rác mục hôi thối. Trường có một dãy chuồng tăng gia, mỗi lớp phải tự nuôi 1 con heo. Hằng ngày mỗi em luân phiên nhau đem thức ăn đến cho heo ăn. Ai mà kiểm soát nổi thức ăn mà mỗi em đem đến loại gì?, được bao nhiêu?. Cho nên nuôi mấy tháng trời mà con heo còi cọc, cái mỏ dài xọc giống như một con chuột cống. Một công việc nữa cũng gây khá lãng phí là hằng tuần đưa cả trường lên núi giăng cờ trống để khai hoang trồng củ mì, củ lang. Trồng xuống rồi mà không hề có một hột phân, không ai chăm sóc, trâu bò tự do phá hoại. Đến cuối vụ cũng đưa quân lên thu hoạch nhưng chỉ được vài thúng, vơí toàn những củ chỉ lớn bằng ngón tay, ngón chân.
Giờ sinh hoạt lớp, học sinh chúng tôi cũng nhiều lần có ý kiến với giáo viên chủ nhiệm về tình trạng lãng phí đó. Có thầy thì cũng thông cảm và bảo đó là do chỉ thị ở trên, có thầy thì lại “lên lớp”, nói rập khuôn theo khẩu hiệu như một cái máy:
– Đây không phải là đi sản xuất, mà là giáo dục cho cho những con người mới chúng ta biết yêu lao động, thấy được lao động là vinh quang.
Giáo dục ai thì không biết, chứ những học sinh nông thôn chúng tôi đã quá quen với lao động rồi. Ai cũng hiểu được là phải lao động mới có ăn, chẳng cần phải giáo dục lao động gì nữa. Nhưng mãi đến năm 1980 thì tình hình “lao động không cần hiệu quả” như thế nầy mới chấm dứt.
Đi củi, giã gạo
Chuyện lao động ở trường thì làm chơi chơi như thế, không cần hiệu quả gì, nhưng ở nhà thì ai cũng phải làm việc cật lực mới đủ ăn. Là dân làm nông nhưng bữa cơm nhà nào cũng phải độn củ, có khi củ nhiều hơn cơm. Anh trai tôi đã lên đường nhập ngũ, tôi phải tiếp tục cáng đáng các công việc nặng nhọc của gia đình. Phải đi cũi về đun nấu và bán để thêm tiền mua quần áo. Lần đầu tiên lên rừng Trường sơn với nhiều cảnh đẹp hùng vĩ mà trước đây mình chỉ được đọc qua sách vở, nhưng cũng chẳng có thì giờ để chiêm ngưỡng vì phải lo chặt cho đủ 4 bó củi để trưa thồ về. Mỗi lần đi núi như thế là mẹ tôi dậy sớm nấu cơm gói sẳn để trên xe đạp rồi mới kêu tôi dậy để đi. Bạn bè gọi nhau đi từ sớm tinh mơ, khi mặt trời mọc là phải có mặt ở chân núi. Mọi người giấu xe vào bụi rậm, lấy cơm ra ăn thật no rồi mới đi vào trong núi. Chặt đến trưa mới đủ 4 bó cũi và bắt đầu vác ra. Khổ nhất là đoạn vác bó cũi nặng mà phải đi khom vì vướng vào cành lá và dây leo chằng chịt. Tuy chỉ có vài trăm mét nhưng nhiều khi đi hoài mà không đến đích. Trong rừng, chổ nào cũng giống nhau, có khi đi vòng tròn về lại chổ cũ. Nhiều khi khát nước quá cũng phải uống nước ở cái hố cạn, nước vàng chóe đầy lá mục. Có nơi trong giữa rừng bắt gặp dấu tích những hàng củ mì, có hôm lại thấy cả một cái thùng phuy chứa chất bột da cam có mùi nồng nặc ngộp thở giống y như mùi của trái mù cay, dù đứng xa vài chục mét mà vẫn không hề chịu nổi. Từ đó tôi càng hiểu thêm cuộc sống của những người bộ đội trong chiến tranh trên rừng Trường sơn gian khổ biết nhường nào.
Khi vác bó cũi đầu tiên ra chổ để xe, việc đầu tiên là bóp cái bánh xe, nếu 2 bánh đều cứng là phấn khởi rồi đấy. Nếu bị xẹp thì phải bỏ cũi lại và dắt xe về thôi. Người lành lặn đi cũi đã rất vất vã, thế mà ông Sữ* là thương binh cụt tay (Người bị tên Đ* Cậ* chém) vẫn phải đi núi với chúng tôi, ông vẫn chặt đủ cũi như mọi người. Khi lên thồ xong xuôi, ông lấy giây thun cột cái tay trái bị cụt cố định vào cây lái (cây nhỏ nối dài từ tay lái xe đạp ra phía sau), tay kia cầm cây thồ để đẩy xe cũi đi trông thật tội nghiệp. Đi núi mệt nhưng vui, công việc mà tôi ngán nhất là giã gạo. Sau giải phóng, xăng dầu không nhập khẩu nữa nên rất hiếm nhà máy xay xát hoạt động, nhiều nhà vẫn tự giã gạo để ăn. Việc đầu tiên là phải đổ lúa vào cối xay, xay cho tróc vỏ, sau đó sàng tách riêng hạt gạo, lúa còn sót lại đưa vào xay tiếp. Hạt gạo còn vỏ lụa phải đưa vào cối giã. Mỗi cối gạo chừng 1kg mà phải giã 5-700 chày, phồng cả tay. Để bớt ngán thì khi giã, tôi đếm số chày, nhiều khi đếm tới hàng trăm rồi tự bỏ và bắt đầu đếm lại 1,2…. Làm thế thì ít thấy chán và giã sẽ được nhiều gạo. Có lúc giã chày tay mệt quá, tôi đẽo một cây chày vồ. Chày vồ có hình dáng giống cái búa. Hai đầu chày vồ to nặng, cán chày thì nhỏ, khi giã thì ngồi trên ghế nên khỏe hơn, nhưng giã chày vồ thì gạo văng tung tóe nên phải lót một tấm bao rộng khắp nền nhà.
Máu đổ giữa thời bình
Cuộc sống mới sau giải phóng tuy vất vã nhưng rất vui. Ban ngày lao động cực khổ nhưng tối đến các đoàn thể vẫn họp hành, sinh hoạt văn nghệ đến khuya. Có mấy ai nghĩ rằng lúc nầy mà có cảnh chết chóc do bom đạn nữa đâu. Thế mà vẫn có nhiều người chết đạn cối đấy. Hôm ấy xã yêu cầu những người tù binh lính ngụy dọn đất hoang ở thôn Mỹ Thuận thì đụng phải quả cối nổ làm 2 người chết và 3 người bị thương. Không phải những tù binh lính ngụy mới phải đi khai hoang những vùng nguy hiểm mà tụi học sinh chúng tôi cũng phải đi tiên phong trong việc này. Đợt ấy học sinh trong toàn huyện phải đem cơm gạo 15 ngày để đi khai hoang. Địa điểm khai hoang là vùng đất ven sông của xã Đức Phong. Vùng đất nầy trước đây là nơi tranh chấp của ta và địch, dân chúng bỏ chạy hết, cây cỏ lên ngút ngàn, còn rất nhiều đạn cối trong lòng đất. Trước khi đi, nhà trường đã làm công tác tư tưởng cho mọi người bằng 3 câu nói trấn an gọi là “3 chưa”:
– Cuốc chưa chắc trúng
– Trúng chưa chắc nổ
– Nổ chưa chắc chết
Nhờ “3 chưa” như thế mà ai cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Nói thật ra là yên tâm vì hai cái “chưa” ở trên, chứ tưởng tượng ra cái “chưa” thứ 3 thì ai cũng kinh hoàng.
Đến địa điểm thì mọi người chia nhau ra ở nhà dân. Dân ở đây rất nghèo nhưng cũng rất tình cảm, Thấy chúng tôi vào nơi nguy hiểm để khai phá ruộng hoang cho họ nên họ rất yêu quí và sẳn sàng nhường giường chiếu cho chúng tôi ngủ. Thầy giáo và tụi con gái cũng phải ra đồng cuốc đất và phát cỏ như tụi con trai chúng tôi, mỗi hôm chỉ phân vài đứa ở nhà lo nấu cơm cho cả lớp. Công việc chính là dùng cuốc lở những đám ruộng cỏ đã bỏ hoang nhiều năm, giũ cỏ lại từng đống phơi khô rồi đốt. Làm như thế được 5 ngày thì một buổi sáng ấy nghe một tiếng nổ “đùng” thật to ở phía địa điểm của trường cấp 3 Nam Đàn – Thôi, chắc là đụng cối rồi! Mọi người đều dừng tay lại, Các thầy giáo và một số anh lớn tuổi đều chạy về hướng ấy, lát sau chạy về cho biết là do cuốc trúng cối một thầy giáo và một anh học sinh đã chết, còn vài người bị thương.
Sự kiện này làm mọi người hoảng loạn, và các trường đã rút quân không dám làm tiếp nữa. Sau này những người dân địa phương tiếp tục khai hoang và chắc là đạn cối sẽ tiếp tục nổ. Chỉ riêng ở thôn Thiệp Sơn quê tôi cũng đã có 6 người chết vì bom đạn còn sót lại dưới lòng đất sau chiến tranh. Người thì làm rẫy, vét mương trúng M-79, người thì cuốc trúng bom lân tinh cháy cả người, người thì chết banh xác do cưa bom lấy thuốc nổ.v.v…
Ôi chiến tranh! Chiến tranh đã qua rồi mà sao người dân quê tôi vẫn còn tiếp tục chịu những cảnh đau thương như thế? Đó là tàn dư của cuộc chiến mà có lẽ khắp Miền nam nầy ở đâu cũng vậy. Nhưng dù sao thì cuộc sống hòa bình đã hiện hữu thật sự ở khắp nơi. Chúng tôi vẫn say sưa với cuộc sống mới. Lúc ấy tôi và nhiều người không hề biết rằng ở Tân Lập – Tây Ninh, ở Ba Chúc – An Giang và nhiều nơi trên tuyến biên giới tây nam, bọn lính Khơ me đỏ đã tràn qua biên giới giết hại nhiều đồng bào, những trẻ thơ nơi ấy lại phải sống trong máu lửa như tuổi thơ của tôi. Và một thời đạn bom mới lại đến với những lớp thanh niên mặc áo lính đàn anh của tôi, đến với lứa bạn bè của tôi, đến cả những lớp đàn em sau này, khi phải 10 năm lặn lội chiến đấu tiêu diệt tụi diệt chủng Pon Pot ở Kampuchia, đánh trả quân bành trướng Trung Quốc ở biên giới phía bắc.
Những người đã đi qua các cuộc chiến là những nhân chứng sống, cũng như tôi, họ có trách nhiệm phải ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, ghi lại các sự kiện đau thương do các cuộc chiến tranh đã gây nên, để cho các thế hệ trẻ sau này hiểu được chiến tranh là rất tàn khốc và đau khổ. Từ đó mọi người càng yêu quí cảnh thanh bình và quyết tâm giữ mãi nền hòa bình độc lập mà chúng ta có được ngày hôm nay.
HẾT
Viết xong tại Phổ Thuận ngày 16 tháng 6 năm 2011
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 22. Ngày đoàn tụ
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên. Ban biên tập bỏ phần chép lại thư Bác Hồ gửi học sinh năm 1945 và bài văn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh; bài thơ “Trước tờ giấy trắng” của Giang Nam chỉ giữ bốn câu.


