Văn hóa xa quê
Người Cor ở Trà Bồng: phong tục, lễ hội và tín ngưỡng
· 6 phút đọc
Nhắc đến Trà Bồng, người ta nghĩ ngay đến quế. Nhưng giữ rừng quế ấy qua bao đời là đồng bào Cor, một dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở Trà Bồng, một ít ở Sơn Hà và sang cả Trà My bên Quảng Nam. Tiếng nói của người Cor thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer. Bài viết này ghi lại những phong tục truyền thống của người Cor theo tư liệu cộng đồng sưu tầm; nhiều tập quán đến nay đã thay đổi cùng nhịp sống mới.
Làng, nóc và nhà sàn dài
Sống giữa núi rừng hiểm trở, người Cor làm nương rẫy là chính: lúa rẫy, bắp, mì; nguồn lợi lớn nhất là cây trầu không và cây quế. Ngoài ra còn săn bắn, hái lượm.
Làng Cor thường mang tên người đứng đầu làng, hoặc tên một con sông, con suối, khoảnh đất, cánh rừng. Ngày trước, hàng chục gia đình cùng dòng họ hoặc thân thiết chung sức dựng một nhà sàn dài trên sườn đồi, bên suối, gần nương rẫy. Mỗi nhà sàn như vậy gọi là một “nóc”, mang tên người đứng đầu. Một nóc chia thành nhiều “cửa”, mỗi cửa là một bếp, mỗi bếp là chỗ ở của một gia đình. Nay nhiều gia đình đã làm nhà riêng.
Người Cor rất coi trọng già làng và người có công khai phá đất đai. Gia đình nhỏ đang dần thay thế đại gia đình. Khi về già, cha mẹ chia tài sản cho các con trai; người con cả hoặc con út ở lại phụng dưỡng cha mẹ nên được phần nhiều hơn. Con gái được nhận của cải khi đi lấy chồng, và khi đã có gia đình riêng, lúc về thăm nhà cha mẹ cũng phải giữ những kiêng cữ như người ngoài.

Hôn nhân: bốn ngày mới thành vợ chồng
Luật tục Cor cấm hôn nhân giữa những người có quan hệ huyết thống gần. Nếu từ một ông bà tổ, đời thứ nhất là anh em trai thì phải đến đời thứ tư, có nơi đời thứ năm, con cháu mới được lấy nhau. Nếu đời thứ nhất là chị em gái, hoặc có cả anh chị em trai gái, thì đến đời thứ ba đã có thể kết hôn. Anh chị em con cô, con cậu, con dì, con cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha đều không được lấy nhau. Ai trái tục sẽ bị phạt, phải vào rừng ở riêng.
Có một tục lệ thú vị: nếu nhà A đã có con gái làm dâu nhà B, thì phải hai, ba đời sau nhà B mới gả con gái về nhà A. Hai anh em trai có thể lấy hai chị em gái một nhà khác, theo thứ tự anh lấy chị, em lấy em. Sau cưới, vợ về ở nhà chồng; rất ít trường hợp chồng ở rể.
Đám cưới diễn ra nhiều bước. Đầu tiên nhà trai nhờ người mai mối dẫn chàng trai mang rượu, trầu cau sang ra mắt. Nếu nhà gái ưng thuận, hai bên định ngày để ông mai và chú rể mang trầu rượu đến làm lễ “đẹp nhà gái”. Trước ngày cưới, hai nhà sửa sang đường sá sạch sẽ và báo với già làng để già làng báo cho cả làng.
- Ngày thứ nhất: họ nhà gái tập trung ở nhà ông mai chờ nhà trai mang trầu cau đến đón. Tối đó, đôi trẻ ngồi chung mâm, mỗi người đặt lên đầu người kia một ít cơm, gọi là “bắt vía”. Sau đó cô dâu theo nhà gái về.
- Ngày thứ hai: nhà trai sang nhà gái, nghi thức hôm trước lặp lại ở nhà gái.
- Ngày thứ ba: nhà trai rước dâu về.
- Ngày thứ tư: nhà trai làm cho đôi vợ chồng mới một bếp riêng, cô dâu làm lễ “bắt nồi”.
Sau đó còn một số lễ nhỏ nữa, đôi trẻ mới thực sự thành vợ chồng.
Sinh nở và đặt tên
Theo quan niệm xưa, người phụ nữ mang thai phải kiêng nhiều điều: không đi ngang trước mặt người già, không đứng vào bóng người lớn, hạn chế tiếp xúc với đàn ông. Khi sinh có bà mụ giúp. Nhau thai được bỏ vào mo cau buộc kín rồi treo lên cây. Bảy ngày sau, người mẹ cho con đặt chân xuống đất rồi cõng con lên lưng, bắt đầu lại công việc hằng ngày.
Lễ đặt tên diễn ra sau đó. Con đầu lòng thường được gọi là âyka nếu là trai, mưây nếu là gái; con thứ là mơoh (trai) hoặc mươh (gái). Tên trong làng không đặt trùng nhau, và lúc nhỏ trẻ thường được gọi chệch tên.
Tang ma
Khi trong làng có người mất, cả làng nghỉ làm, nghỉ hội hè. Họ hàng cùng lo làm hòm, dựng nhà mồ, mổ heo đãi khách. Người đến viếng mang theo trầu cau và hát càrùa, những bài hát kể lại cuộc đời, đức độ của người đã khuất. Hòm được đưa ra cửa chính, chân đi trước để người mất không ngoái nhìn lại nhà.
Đồ đạc riêng được chia cho người mất và làm hỏng đi để không ai lấy dùng. Đầu nhà mồ đặt chiêng, ché, dụng cụ săn bắn nếu là đàn ông; gùi, nồi, đồ trang sức nếu là đàn bà. Người Cor tin người già yếu, ốm đau mất đi sẽ thành “ma lành”, còn người chết bất đắc kỳ tử thì thành “ma dữ”.
Người Cor không có tục để tang như người Kinh. Chôn cất xong, sau ba ngày với người trẻ và bảy ngày với người lớn tuổi thì làm lễ mở cửa mả. Ba năm sau, gia đình làm lễ mãn tang, con cái mới được cưới gả. Vía người mất được thờ trong nhà bằng một chiếc thúng nhỏ đựng tro bếp đốt cùng vỏ cây trầm, kèm lục lạc móc dây cườm; mỗi lần cúng thì rung dây cườm.
Tín ngưỡng: vạn vật đều có hồn
Người Cor tin vạn vật hữu linh. Theo tín ngưỡng cổ truyền, đàn ông có 17 phool và đàn bà có 19 phool, gần giống khái niệm “vía” của người Việt. Cây đa cổ thụ, vườn quế, các bộ phận của ngôi nhà, cả hốc nguồn trên rẫy đều có thần linh ngự trị, nên người Cor không dám chặt phá bừa bãi hay đốt lửa quanh những nơi ấy. Con vật cũng có hồn.
Đồng bào rất chú ý đến điềm báo. Đi rẫy mà gặp rắn hổ (tuul) hay rắn mái gầm (voel) thì phải quay về làm lễ cúng.

Quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Cor là tín ngưỡng thờ thần Lúa cùng các nghi lễ nông nghiệp đi kèm. Lớn nhất trong năm là lễ hội đâm trâu, được tổ chức công phu, có tiếng chiêng, rượu cần, điệu múa và lời khấn cầu mùa màng no đủ, dân làng bình yên.
Giữ được những nếp văn hóa ấy giữa nhịp sống hôm nay không phải chuyện dễ. Nhưng mỗi khi tiếng chiêng vang lên ở Trà Bồng, người ta lại nhớ rằng miền tây Quảng Ngãi có một kho tàng văn hóa riêng rất đáng tự hào.
Bài biên soạn lại từ tư liệu thành viên đăng trên diễn đàn Người Quảng Ngãi ngày 15/2/2011. Phong tục được ghi theo nếp truyền thống; nhiều tập quán nay đã thay đổi.


