Trang chủ Ký ức

Ký ức xa quê

Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 8: Đại đội nữ Hồng Gấm, ba năm không hoa

· 25 phút đọc

FacebookThreadsX
Ba lô vải, nón lá và ngọn đèn dầu trên tấm phản gỗ
Ba lô vải, nón lá và ngọn đèn dầu trên tấm phản gỗ. Ảnh minh họa.

Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 8/23, thuộc Phần 2 – Ở nơi sơ tán. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.

Khi Hồng Gấm đã phát triển thành đại đội thì lúc này đứng ra tác chiến độc lập. Các nữ Hồng gấm đa số là con em những gia đình cách mạng, nợ nước, thù nhà chồng chất, nên chiến đấu rất dũng cảm.

Chị Tư đại đôị trưởng Trước khi vào Hồng Gấm là xã đội phó xã Phổ Ninh, chị Đườ** Đại đội phó cũng tham gia du kích xã Phổ Văn từ năm 1971. Bây Giờ các chị đều đã lên chức bà nhưng vẫn nhớ như in những năm tháng gian lao của một thời tuổi trẻ với những đợt phục kích phải dầm mình dưới sình cả ngày trời, những trận quần nhau với tụi lính sư đoàn 2 cả tháng trời.

Bốn mươi lăm ngày ở Bình Mĩ

Trận đáng nhớ nhất là trận Chống địch nống ra chiếm đất, dành dân ở Bình Mĩ – Phổ Thuận sau hiệp định Pari. Ngày 2-3-1973 một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 4 – Sư đoàn 2 Ngụy từ núi Chóp Vung tràn xuống thôn Bình Mĩ, Nơi đơn vị đứng chân. Từ mờ sáng pháo 105li trên đồi Chóp Vung bắn dồn đập vào trận địa. Khi pháo dứt các chị ngoi lên khỏi công sự bắn quyết liệt vào tụi lính đang tiến tới. Chị Tư đại đội trưởng vẫn ở sát tuyến tiền duyên, chị sử dụng có lúc cả 3 loại súng: M79, RPD, AK. Liên lạc giữa BCH đại đội đến các trung đội, các tổ đều phải chạy bằng chân. Chị Lo** là tiểu đội trưởng cối 60 gỡ bỏ cả chân đế của súng để cơ động nhanh và dùng dép cao su kê chân đế bắn thẳng vào trúng đội hình địch làm địch bỏ chạy tán loạn về sau. Chị Lo** về sau được báo QĐND biểu dương là “Trụ thép Bù* Thị Lo**”, Chị Trị** Thị Tuy** Ma* thì giữ khẩu trung liên RPD bắn kiềm chế cả ngày trời không cho địch tràn lên chốt, sau được phong danh hiệu dũng sĩ. Chị Đườ** đại đội phó lại là một xạ thủ cối M79 xuất sắc.

Cuộc chiến kéo dài hết ngày này đến ngày khác. Có khi địch chỉ cách có 10m, nhiều khi phải nhịn đói cả ngày vì địch vây hãm, không mang cơm lên được. Có chị đến kì có bệnh vẫn chiến đấu cả ngày với một bộ đồ trên người, đến tối chị nuôi quân lại phải đem bộ khác lên chốt và đem đồ về phía sau giặt cho các bạn.

Có hôm địch chết nhiều, không vào lấy xác được chúng phải gọi loa xin ngưng bắn để vào chuyển xác ra ngoài.

Các chị ban ngày thì chiến đấu, ban đêm lại dùng loa hát các bài hát binh vận. Biết được đối tượng chiến đấu với mình là đại đội nữ nên bọn địch càng sĩ diện, quyết tấn công chiếm cho được trận địa. Nhưng càng đánh chúng càng thua đau, cuối cùng chúng phải bỏ cuộc

Suốt 45 ngày chiến đấu (Từ 2/3/1973 đến 17/4/1973) đại đội đã tiêu diệt 130 tên địch. Đơn vị có 5 chị đã hy sinh, đó là các chị: Đà*, Ma*, Oa**, Li** và chị Đẹ*.

Trận An Hòa

Sau trận càn ở Bình Mĩ vừa xong, đại đội kéo quân qua xóm An Hòa, xã Phổ Ninh thì lại đụng tiếp một tiểu đoàn biệt động đi từ ga Đức phổ theo đường sắt tiến ra. Địch vẫn biết Hồng Gấm đang đứng chân ở An Hòa nhưng cứ nghĩ là đơn vị nữ thì sẽ phòng thủ ở bìa làng trở vào. Do đó chúng hiên ngang kéo thẳng đến gần làng. Trong khi đó chị Tư C trưởng đã cho một trung đội phục cách làng 150m và một mũi vòng ra phía sau đánh vu hồi. Đợi địch cách 10m chị Tư mới cho phát hỏa. Các cở súng nổ rộ lên, những tên đi đầu đều ngã rụi. Địch quá bất ngờ bỏ chạy xuống cánh đồng

Khi địch rối loạn hàng ngũ chạy dạt xuống cánh đồng gần cái xóm ở phía đông thì đụng mũi vu hồi của trung đội 2. Chị Tuy** Ma* ôm trung lên RPD bắn tạt sườn cùng với các chị bắn AK làm cho địch chết thêm một số nữa, số còn lại quăng súng thối chạy về hướng nam. Phía tây làng An Hòa có một đại đội khác của địch cũng đồng thời tiến ra theo đường xe lửa, chúng nả tiểu liên và M72 vào trung đội 1 ở chính diện có chị Tư C trưởng nhưng nhờ đã chọn vị trí phục kích có những bờ đất cao nên cả trung đội vẫn an toàn. Đường xe lửa cao hơn đất ở hai bên cở vài mét. Lúc đầu chị Ng* bắn cối 60 cứ bay vọt qua đường tàu. Chị Tư lấy M79 bắn trúng vào đội hình địch. Sau đó chị Ng* áp dụng lối bắn ứng dụng, kê dép cao su thay chân đế bắn thẳng lên đường tàu. Đạn nổ chính xác vào đội hình địch từng quả, từng quả, khói trùm lên, chạy dài theo đường tàu. Địch đang ở thế vô cùng bất lợi vì đội hình chúng khi tiến ra di chuyển ở mép phía đông đường tàu rất trống trải. Chúng phải chạy nhào trở lại chứ không ẩn nấp vào đâu được. Số chết, số bị thương la liệt.

Địch lui về Ô ga Đức Phổ và cho máy bay ném bom cả buổi sáng hôm ấy và cho quân tấn công 10 ngày liền. Đơn vị vẫn cùng với du kích Phổ Ninh bám trụ đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Chị Mẫ* bắn B40 rất chính xác, bắn trúng cả vào ngay cái ba lô tên địch đang chạy. Đội hình địch rối loạn, chúng bỏ lại nhiều xác chết mà không dám vào kéo ra. Tối đến các chị mò ra lấy được 12 khẩu súng. Sang đến ngày thứ 11 Địch điều 9 chiếc xe bọc thép M113 theo hai ngã phía nam và phía đông của làng An Hòa tiến ra. Chị Tư nghe tiếng xe tăng ầm ì từ xa, biết không thể chống lại được nên gấp rút cho lệnh thu quân chạy dọc theo sông Trà Câu, lên cứ ở xã Phổ Nhơn an toàn.

Kết quả địch chết 40 tên, đơn vị có chị Nguyễn Thị Ma* hy sinh và vài đồng chí bị thương.

Địch thua đau vì quá bất ngờ khi Hồng Gấm dám đưa quân ra mai phục trong các gò, bờ thửa giữa đồng trống và làng An Hòa gồm nhiều xóm chạy vòng cung xen giữa là đồng trống, nên địch khó biết được trận địa chính của Hồng Gấm tại vị trí nào. Một điều nữa là phía tây đường tàu giáp với núi Vàng Thượng, do sợ quân ta mai phục trên núi nên chúng tiến quân ra theo mép phía đông của đường tàu thì gặp mai phục ở các gò, bờ ruộng phía đông nổ súng, lúc đó phải dán lưng vào mép bờ đường tàu mà hứng đạn, không dám chạy vọt lên đường tàu để qua mép bên kia, vì đường tàu khá cao.

Tụi biệt động quân nổi tiếng hung hăng với bộ đồ rằng ri trên vai có con cọp nhe hai hàm răng đỏ lòm- Sau trận chiến đó phải kinh hoàng và địch phải điều thêm một tiểu đoàn thiết giáp về đứng chân tại Đức Phổ. Chị Tư C trưởng và đơn vị được nhận Huân chương chiến công hạng 3. Chị Tư được đi dự Đại hội thi đua trên quân khu 5 và được phong dũng sĩ.

Tiêu diệt lính Sư đoàn 2 đang tắm truồng

Chị Tri** tham gia Hồng Gấm từ những ngày đầu thành lập khi mới 17 tuổi. Chị cho biết Hồng Gấm khi ấy, người nhỏ nhất là chị Ho* ở Phổ Cường mới 13 tuổi (chứ không phải 16), lớn nhất là chị Tù**, chị Mẫ* 23 tuổi. Chị Tri** làm y tá của trung đội 2. Những người khác thì chỉ mang vũ khí, còn chị ngoài khẩu AR-15 còn phải mang túi cứu thương và một bó nẹp các cở, nẹp dài nhất tới 1m.

Những kỷ niệm đáng nhớ nhất là khi phải ôm đồng đội trên tay, máu me đầy mình, cố gắng cứu chữa nhưng vẫn không giữ được mạng sống cho bạn mình. Nhiều người đã chết trên tay của chị như chị Đà*, chị Ma*, chị Oa**. Về trận đánh đáng nhớ nhất của chị là trận tiêu diệt lính sư 2 đang tắm truồng.

Núi Giang là ngọn núi rất nhỏ nằm ở chân núi xương Rồng, sát sông Ba Liên (sông Trà Câu). Sau Hiệp định Pari 1973 bọn lính Sư 2 nống ra chiếm đất nên cho một trung đội lập chốt ở núi Giang. Các chị từ Phổ Nhơn xuống ém sát bên kia sông. Qua nhiều lần theo dỏi thấy bọn địch thường xuống sông tắm. Hôm ấy 3 tổ của Trung đội chị nằm phục trong công sự ở bờ sông thì thấy một tốp lính trên núi Giang đi xuống, chúng cởi hết quần áo chạy ào xuống sông.

– Chúng vẫn còn mặc quần đùi chứ? Tôi hỏi.

– Không! Không hề mặc một cái gì trên người

Có lẽ ở trên chốt khó có chổ phơi quần áo nên thích tắm như vậy. Các chị há hốc mồm kinh ngạc mà vẫn không dám cười. Mọi người đang tần ngần thì chị Ng** btrưởng nói:

– Mẫ*! Bắn đi.

Lúc đó chị Mẫ* mới giương khẩu B40 lên nhắm vào giữa tốp lính ở khoảng cách chỉ 30m. Một tiếng nổ chát chúa bùng lên trên mặt sông, cả 9 tên địch đều tan xác. Bọn địch trên núi bắn xuống như mưa, nhưng các chị đã chuẩn bị công sự từ trước nên chẳng việc gì. Vì tổ phục kích ở bên nầy sông nên bọn địch cũng chẳng dám lội sông tiến qua. Chị Mẫ* là tay bắn B40 có hạng. Một lần chị có thể bắn được 3 phát.

Trong năm 1973 đơn vị đứng chân thường xuyên tại Bình Mĩ. Nhiều ngày tối tăm mặt mũi vì phải đánh địch nống ra, nhưng cũng có nhiều hôm hai bên thấy nhau nhưng bên nào nấy ở, chẳng bên nào nổ súng.

Sau 1976, chị Tri** về d83e94 đi mặt trận biên giới tây nam và làm tiếp nhiệm vụ cứu thương. Sau đó chuyển ngành làm thương nghiệp, rồi thương nghiệp cũng giải thể. Bây giờ ở nhà mở một cái quán nhỏ ở Văn Trường, Phổ Văn, kiếm ít đồng cộng với lương thương binh và lương của chồng cũng tạm ổn.

Tôi hỏi chị: – Chị bị thương khi nào?

– Bị thương năm 1974 ở Vùng 5, chổ nhà bà Yế*, khi đang cùng các anh C120 chặn đánh địch từ

Quán vịt ra, bị mãnh M72 vào đùi, anh Trườ** phải cõng chị chạy tuốt xuống Phổ An.

– Rồi! Nhà bà Yế* ở cạnh sát nhà tôi. Như vậy là hôm đó tôi chui dưới hầm, chỉ biết có bộ đội

Huyện đánh chứ không hề biết có Hồng Gấm.

Tôi lại hỏi tiếp:

– Thời gian đó một lần vào sáng sớm sao tôi thấy một cô gái lạ cứ lãng vãng trước ngỏ nhà tôi. Ai cũng không hiểu cô gái ấy làm gì ở đây. Một lát sau lính nghĩa quân ra tới cái cống thì một tiếng nổ “Đùng” rất to vang lên trên ấy. Mọi người chui xuống hầm. Lính từ trên đường bắn xuống xóm rào rào. Khi ngưng tiếng súng, bò lên thì lính cũng đã đến, và chúng hỏi: “Ai ở đây giật mìn?” Mọi người đều nói có thấy một cô gái lạ nhưng không biết đó là du kích. Không biết là du kích hay Hồng Gấm vậy?

– Chị Trị** Thị Tuy** Ma* – Hồng Gấm đấy! Chị Tri** nói,

– Hôm ấy do vội quá nên sao mà chẳng thấy chết tên nào, chỉ bị thương nhẹ vài tên. Vậy là tôi đã gặp Hồng Gấm nhiều lần mà cứ nghĩ đó là các cô du kích

Nhớ có lần khi đêm nhà tôi chui vào trong hầm. Một tổ cối 60 đặt sát cửa hầm bắn vào đồn Quán Vịt, Từ đồn bắn cối M79 ra nổ đì đùng mà vẫn nghe một giọng nữ:

– Bắn một trái nữa đi anh Qua**!

Nghe một tiếng “tong” rồi một tiếng “đùng” ở hướng đồn Quán Vịt. Tôi thì sợ địch sẽ bắn pháo từ Gò Hội ra thì chết, nên mong sao cho tổ cối 60 này đi đi, đừng bắn nữa. Nhưng rồi lại nghe tiếng thì thào của hai người nam, rồi tiếng cô gái lại nói:

– Bắn tiếp một trái nữa đi anh Qua**!

Ngồi trong hầm mà tôi thầm chửi: “Con gái gì mà hăng thế!” Đến bây giờ nghe các chị kể lại thì mới biết đó là nữ Hồng Gấm

Rồi Chị Tri** lại kể tiếp: Một trận bấm mìn khác ở Cống Ba Lù được giao cho chị Ho* là người nhỏ tuổi nhất đơn vị. Các anh dặn, khi đầu chiếc xe nhà binh vừa đến quả mìn là bấm. Chị Ho* thấy chiếc xe lù lù chạy tới cách khoảng vài mét, liền bấm. Quả mìn nổ tung, đất đá bay rào rào mà chiếc xe vẫn chạy. Về đơn vị các chị hỏi:

– Sao đã dặn rồi mà bấm sớm vậy?

– Thì em thấy cách vài mét là bấm thì điện chạy từ chổ mình đến quả mìn cũng cở thời gian chiếc xe chạy đến.

Mọi người cười ồ, xuýt xoa: Thật là ngây thơ! Chị Ho* cứ nghĩ là điện chạy cũng nhanh hơn xe một tí thôi. Cũng phải thật thông cảm, vì các chị khi ấy có được học hành là bao, đa phần là lớp ba, lớp bốn mà thôi.

Đôi chân chị liên lạc

Chị Bù* thị Hồng Đẹ* dáng người nhỏ nhắn, nhưng đôi chân của chị được xem đi nhiều nhất trong Đại đội Hồng Gấm. Chị làm liên lạc cho đại đội trưởng Tư từ ngày Hồng Gấm lên đại đội. Cả đơn vị không hề có một chiếc máy vô tuyến hay hữu tuyến, liên lạc phải chạy bằng chân. Chị không thể nhớ được trong 3 năm ấy chị đã chạy hết quảng đường bao nhiêu cây số, chị có nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh của Ctr đến các trung đội, Chạy từ đơn vị đến ban chỉ huy huyện đội để xin ý kiến. Trong trận đánh ở Bình Mĩ chị phải chạy qua cái Dốc Ông Hùng trên đường xe lửa là một địa hình rất cao và hoàn toàn trống trải, đến đó thì hàng loạt quả pháo 105 ở đồi Chóp Vung cũng vừa chụp xuống, đất đá bốc lên mù mịt hất chị ngã xuống mép đường tàu. Mọi người nhìn lên nghĩ chắc chị tiêu tan rồi, nhưng một chốc lại thấy chị đứng dậy chạy tiếp. Trong trận An Hòa – Phổ Ninh, khi chạy qua xóm giấy để truyền đạt mệnh lệnh của đại đội trưởng Tư chị bị mãnh của quả M72 quất trúng vào đùi làm chị nghã chúi xuống ruộng, được đồng đội kéo vào hầm và chuyển lên trạm xá B25 điều trị cả tháng. Xuất viện chị lại về làm liên lạc cho đến ngày giải phóng. Đến 1976 chị về trung đoàn 94 làm nhiệm vụ ở biên giới và gặp anh Th* cũng là bộ đội. Sau đó cả hai cũng giải ngũ trở về với đời thường và bây giờ hai vợ chồng cũng đều chỉ nhận được lương thương binh, mỗi xuất chỉ hơn 1 triệu đồng.

Chị Ho* trung đội phó trung đội 1 thì trí nhớ giãm đi nhiều, nhưng trận chiến đấu một ngày đêm ở Nga Mân – Phổ Cường thì chị chẳng hề quên. Lúc đó đơn vị và du kích xã đang nghỉ, không biết canh gác thế nào mà lúc 12h đêm tốp lính sư 2 mò vào tận nơi đầu võng. Chúng hô: “dậy, dậy!” toan bắt sống vì địch cứ tưởng chỉ có vài người. Các chị bung võng vùng chạy ra ngoài, địch cũng hoản hốt vì thấy vùng dậy đến vài chục người nên chúng cũng bỏ chạy. Sáng sớm địch tổ chức tấn công vào làng, hai bên nổ súng cả ngày hôm sau nhưng địch vẫn không chiếm được mục tiêu. Chúng đành bỏ cuộc. Sau đó đơn vị đánh dai dẳng với lính Trung đoàn 4 cả tháng trời ở Phổ Cường.

Cây hỏa lực của đại đội

Chị Huỳ** Thị Mẫ* tham gia du kích xã Phổ Thuận từ năm 1968 rồi được bổ sung vào huyện ủy. Khi Hồng Gấm lên đại đội thì chị về tham gia và lên đến cấp trung đội phó. Lúc đầu vác AR-15, cối cá nhân M79 rồi sau đó đi học về vác B40. Trận mà chị không thể quên đó là trận tập kích núi Đất vào tháng 4 – 1974. Núi đất là một ngọn núi nhỏ nằm dới chân núi Vàng Thượng ở Lộ Bàn – Phổ Ninh. Quá trình theo dõi thấy hằng ngày mờ sáng địch từ Ô Lê Văn Duyệt kéo lên giữ chốt ở núi Đất để ngăn chặn hoạt động của ta ở các vùng lân cận, tối chúng lại rút về. Đêm ấy 3 tổ của Hồng Gấm phục sát chốt địch. Tổ của chị có cả anh Đạ* là phóng viên báo QDND cùng đi theo, Chị Mẫ* và chị C* mỗi người 1 khẩu B40, chị thứ 3 thì AK, lựu đạn M26. 5h sáng một tiểu đội của địch kéo lên núi Đất đã lọt vào ổ phục kích. Chị C* bắn quả B40 đầu tiên vọt cao qua đầu, địch hốt hoảng nhảy vào công sự, chị Mẫ* bắn quả thứ 2 trúng ngay tốp địch làm 2 tên chết trong chiến hào và 3 tên chết trên bờ công sự. Các chị nhảy lên thu được 4 khẩu AR15 và rút lui an toàn.

Trận thứ thứ 2 cũng không thể nào quên là trận cùng với C120 chống càn ở Phổ Vinh năm 1973.Chị bắn liên tiếp 2 quả B40 nhưng địch tràn lên đông quá, nhìn anh Đ* (C120) ở bên cạnh bị thương, chị chụp cây B41 làm tiếp một quả nữa, hai tai ù đi và ngất xĩu. Được đồng đội kéo vào đặt dưới chiến hào, lát sau tỉnh dậy cùng các bạn chiến đấu tiếp đẩy lùi được trận càn của địch.

Cô đại đội phó xinh đẹp

Nhìn vào tấm hình cô gái đội mũ tai bèo mặc bộ đồ đen, tay cầm khẩu M79 thì ai cũng tấm tắc khen xinh đẹp. Ngồi đối diện với tôi chính là đại đội phó Ng* thị Đườ** – chính là người trong bức ảnh ấy- 39 năm đã trôi qua nhưng những nét đẹp của thời con gái vẫn còn lưu lại trên gương mặt của một phụ nữ đã gần 60.

Cha chị tham gia CM bị địch bắt tra tấn dã man, chúng dùng kiềm bẻ cả hàm răng. Thù nhà, nợ nước chị xung phong vào du kích xã Phổ văn từ năm 17 tuổi. Khi Hồng Gấm thành lập chị là b phó, tháng 9-1972 trở thành đại đội phó. Là cán bộ đại đội nhưng vẫn luôn đi sát với đơn vị ở phía trước và chuyên bắn M79 trong các trận chiến. 24-3-1973 trong trận đánh với lính trung đoàn 4 ở Mĩ Thuận chị bị thương phải đi viện. Ra viện, về tiếp tục chiến đấu cho đến khi đơn vị giải tán. Ra quân về làm ở phụ nữ huyện đến khi về hưu. Chồng làm thầu xây dựng cũng đã về hưu, con cái đều trưởng thành. Chị là người có cuộc sống kinh tế khá nhất so với các chị em khác.

Chuyện tình của đại đội trưởng

Đại đội trưởng Nguy** Thị Cẩ* Tư bây giờ có cách nói chuyện ào ào và mạnh mẽ. Chị có những nhận xét về xã hội, con người một cách thẳn thắn, bộc trực chứ không kín đáo như các chị em khác. Có lẽ ngày xưa chị cũng thế nên mới chỉ huy được cả một đại đội nữ. Mà con gái ở chung thì biết bao nhiêu vấn đề rắc rối xảy ra.

Sau trận chiến thắng ở An Hòa với cách đánh táo bạo ém quân ngoài đồng trống cách làng 150m. Đơn vị và cá nhân chị được thưởng huân chương. Chị lên khu dự đại hội chiến sĩ thi đua. Trong những ngày ở khu chị gặp anh Vâ*. Anh Vâ* lúc đó là đại đội trưởng một đại đội thông tin. Gặp được người đồng hương Đức Phổ lại cùng là đồng chí nên hai người quen và tìm hiểu nhau. Khi trở về đơn vị và tiếp sau đó là đi chỉ huy đơn vị chống càn ở Phổ Vinh. Trong khi đó thì anh Vâ* đi công tác và gởi thư hẹn chị lên gặp ở suối Bùi Nhui. Lá thư theo đường giao liên về đến tay anh C* là chính trị viên huyện đội. Anh C* cử chị Đườ** là đại đội phó lên thay vị trí chỉ huy chống càn và gọi chị về huyện. Gọi về không phải để gặp anh Vâ* mà gọi về để “Kiểm điểm”

Không phải kiểm điểm gì nặng nề lắm, nhưng anh bảo phải gác lại chuyện yêu đương để toàn tâm cho chiến đấu. Anh C* nói:

– Đơn vị Hồng Gấm có nhiều thành tích cũng nhờ em. Em như cái đầu tàu kéo đoàn tàu chạy, phải làm gương cho chiến sĩ, em mà như thế thì làm sao ăn nói với đơn vị?

– Bây giờ nếu em báo cáo tổ chức công khai chuyện này ra thì huyện đội có chấp nhận không? Chị Tư nói.

– Tất nhiên chuyện đó là chính đáng, nhưng thời điểm này phải gác lại, tập trung tất cả cho công việc giải phóng quê hương. Các đơn vị chiến đấu đều không được nghĩ đến chuyện cá nhân trong lúc này!

Rồi chị trở về đơn vị tiếp tục chỉ huy đơn vị chống càn. Anh Vâ* nghe tin như thế rồi cũng trở về và sau đó bặt tin và có người mới. Đến bây giờ chị vẫn còn trách anh sao quá yếu đuối, không có bản lĩnh của đàn ông. Chỉ vì một trở ngại nhỏ mà bỏ chạy. Sau giải phóng chị mới lập gia đình với anh Dù** cũng là thương binh. Hai vợ chồng bây giờ cũng chỉ hưởng lương thương binh nên cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn.

Các cô Hồng Gấm khi ấy mới 18, đôi mươi, là lứa tuổi xuân phơi phới, nhưng không có cô nào có người yêu cả. Không phải các cô có trái tim bằng sắt vì bị lửa đạn nó làm khô cằn. Đó là lứa tuổi yêu đương, hẹn hò. Nhưng với cách lãnh đạo cứng nhắc như thế chẳng có cô nào dám yêu đương công khai. Là con gái, có khi dưỡng quân ở cứ thì cũng thích ủi bộ đồ cho láng cũng bị kiểm điểm, thêu chữ “kĩ niệm” hay thêu bông hoa, con chim trên túi xách cũng bị bắt phải gở xuống vì cho rằng có tư tưởng “Tiểu tư sản” Chị Ma* chính trị viên Hồng Gấm theo lệnh của cấp trên thực hiện gắt gao những chuyện như thế. Chị Tư là cán bộ nên chỉ được nhắc nhở nhẹ nhàng, chứ người khác thì phải kiểm điểm một ngày! Đó là những kĩ niệm nhớ đời về một thời có máu mà không có hoa của các chị.

Ba năm chiến đấu

Các chiến sĩ Hồng gấm đa số là con em gia đình cách mạng, cha mẹ bị tù đày hoặc hy sinh nên có lòng căm thù giặc sâu sắc, do đó họ chiến đấu rất dũng cảm. Tuy vậy cũng có vài cá nhân khi ác liệt quá cũng bỏ ngũ trở về. Đặc biệt có một trường hợp phản bội đã bị tiêu diệt.

Đầu năm 1972. Để chuẩn bị lực lượng cho chiến dịch Xuân – Hè, huyện có tổ chức xây một cái trại ở trên cứ (xã Ba khâm- Ba Tơ) gọi là Trại Xuân. Sau đó cho du kích các xã về các vùng địch tạm chiếm” mời “các nam, nữ thanh niên lên Trại Xuân học tập. Ở Trại Xuân thanh niên được học tập chính trị về nghĩa vụ của người thanh niên, được tổ chức vui chơi văn nghệ trong 7 ngày. Sau đó tổ chức đăng kí tòng quân. Hầu hết đều đăng kí vào các đại đội vũ trang của huyện, nữ thì một số vào Hồng Gấm. Cô Z. vào Hồng Gấm trong trường hợp như thế. Đến 1973 chiến trận càng khốc liệt cùng với sự lôi kéo của gia đình, Z. đã bỏ ngũ trốn về. Địch biết được Z. là Hồng Gấm nên o ép bắt phải chỉ điểm. Sau vài lần chỉ trỏ như thế, nhưng đơn vị đã cảnh giác chuyển quân kịp thời nên chưa có thiệt hại gì. An ninh xã Phổ Thuận cùng với đơn vị mai phục nhiều lần mơí bắt được Z.đem giam trên cứ. Một lần cho xuống suối để vệ sinh, Z. bỏ chạy và các cô Hồng Gấm đã tiêu diệt Z. Thật đáng thương!

Suốt 3 năm chiến đấu, Hồng gấm hy sinh hết 8 người, hai chị được phong danh hiệu dũng sĩ, còn hầu hết là bị thương. Đến 1976 đơn vị giải tán. Bây giờ chỉ có 4 chị được hưởng lương hưu, còn lại chỉ được trợ cấp thương binh, nên cuộc sống đa số đều khó khăn. Cũng vì thiếu sự quan tâm của các cấp mà đến tháng 2-2000 đơn vị mới được phong danh hiệu anh hùng.

Lời tác giả

Cuốn hồi kí này chỉ để viết lại xoay quanh những kí ức của Lamson trong chiến tranh, chứ không có tham vọng viết lại lịch sử chiến đấu của quân dân huyện Đức phổ. Nhưng vì sự ngưỡng mộ những kì tích của các cô Hồng gấm năm xưa và cũng để hầu chuyện bạn đọc, mà Lamson đã bỏ ra 10 ngày để làm công việc của một phóng viên đi phỏng vấn, chụp hình, xử lí hình ảnh và viết bài về một đại đội nữ bộ đội duy nhất ở Miền nam trong KCCM.

Đã gần 40 năm trôi qua, nên tuy cùng một sự việc, nhưng mỗi nhân chứng lại kể lại có những tình tiết khác nhau, ngày tháng cũng khác nhau. Lúc đó lại phải lục tìm trong sách, đối chứng lại và ghi ra theo nhận định của mình mà mình cho là hợp lí nhất. Dù có sai lệch về ngày tháng hoặc một số tình tiết, nhưng những sự kiện chính được ghi ra là hoàn toàn có thật. Vài trang phóng sự trong hồi kí nầy cũng là lời tri ân của tác giả đối với đại đội Hồng Gấm và cũng thay một nén hương của một đứa em trong chiến tranh, dâng lên mồ của các chị đã hi sinh.

Hôm nay đã là 29 tết. Lamson xin khép lại trang phóng sự này. Xin chúc các bạn đọc cũng như các thành viên trong diễn đàn QSVN đón một mùa xuân Tân Mão nhiều vui vẻ, nhiều hạnh phúc. Để bước sang năm mới Lamson sẽ tiếp tục câu chuyện về một “Mùa hè đỏ lửa” kinh hoàng mà mình đã chứng kiến.

Đọc tiếp

Tập trước: Tập 7. Đại đội nữ Hồng Gấm, trận An Trường
Tập sau: Tập 9. Mùa hè đỏ lửa
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa

Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.

Chia sẻFacebookThreadsX

Cùng chuyên mục