Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 9: Mùa hè đỏ lửa
· 20 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 9/23, thuộc Phần 3 – Mùa hè đỏ lửa. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Bây giờ xin được trở lại với cái “mùa hè đỏ lửa”.
Đi buôn cho cách mạng
Đầu năm 1972, ở vùng giáp ranh hai huyện Đức Phổ và Mộ Đức có phong trào rầm rộ đi buôn hàng cho cách mạng. Đi buôn gạo, vải vóc, thuốc tây, xăng dầu đều một vốn lời tới hai, ba lần. Không hiểu cách mạng tiền ở đâu mà tung ra mua nhiều thế?. Người nào có vốn buôn đô la thì lãi nhiều hơn nữa.
Thời gian nầy khi đi học tôi vẫn thường ghé lại nhà bác hai tôi tản cư ở ngã tư Thạch Trụ để chơi và hay ngủ lại để hôm sau đi học tiếp. Một đêm khoảng 3-4h sáng, nhiều tiếng động lao xao ngoài đường 5 (QL24) làm tôi thức giấc. Chạy ra xem thì thấy người đi buôn đông như đi xem hát. Kẻ thì ghánh, người thì chở hàng trên xe đạp, người thì thồ mấy bao gạo. Vừa đi vừa nói chuyện ồn ào. Thường thì có cơ sở báo đêm ấy không có lính phục kích thì mới dám đi. Tuy nhiên, cũng có nhiều người bị bắn chết do gặp lính phục kích mà không biết. Anh Dưỡ**, con bác tôi, là một thiếu niên, cũng đi buôn gạo. Mỗi lần đi anh chở gạo bằng 2 bao các Mĩ khoảng gần 40 kg. Anh kể rằng, hàng được mấy người đi buôn đem đến một cái chợ nằm trong một rừng cây rậm rạp gần như không thấy ánh nắng mặt trời, nơi ấy có những người của cách mạng thu mua với giá rất cao, bao nhiêu hàng họ cũng mua hết. Chợ nằm ở cây số 10 (tại nghã tư Thạch Trụ là cây số 0 của đường 5). Nơi đó là vùng giải phóng, không có địch, chỉ sợ nhất là máy bay thôi. Đến chiều, mọi người đi về từng tốp, từng tốp đến ngã tư Thạch trụ đi ngang qua trước mặt những tên lính nghĩa quân. Chúng vẫn biết rõ là đi buôn hàng lên núi cho CM. nhưng chẳng có cớ gì để bắt và rồicũng quen với cảnh ấy nên chẳng thấy chúng tra xét gì.
Một hôm anh Dưỡ** đi buôn gạo, đến chiều tối mới về mặt mày hớt hãi kể lại rằng khi bán gạo đã xong, trên đường về thì gặp máy bay. Những người lớn họ đã kinh nghiệm lẫn vào các lùm cây trốn, còn anh thản nhiên cởi xe đi trên đường. Chiếc máy bay Hai Thân quần lại rồi nả đại liên bắn anh. Bụi đất quanh mình mù mịt, nhưng chẳng có viên nào trúng. Rất may là chổ ấy gần sát cái cầu Chùa Cháy. Anh vội vàng quăng xe, nhảy ùm xuống nước, bơi vào trong chân cầu. Chiếc Hai Thân quần lại bắn tiếp xuống cầu, nhưng anh đã vào trong vị trí an toàn. Vì lãi lớn nên vài hôm sau anh lại đi tiếp. Anh có rủ tôi đi mà tôi chẳng dám.
Người buôn đô la là lời nhất. Khi đi chỉ cần mang theo cái túi tiền Việt đem lên mua đô la của CM. về bán lại cho các tiệm vàng, hưởng chênh lệch rất cao, nhưng cũng rất nguy hiểm khi gặp phục kích, vì đó là đối tượng lính ngụy chú tâm săn đuổi để kiếm tiền
Gần sát nhà tôi có chị Mi** là người bị tật mất một tay nhưng cũng đi buôn. Chị thì buôn xăng, dầu trong những cái can. Hôm ấy vừa đi qua khỏi đường xe lửa thì gặp lính sư đoàn 2 phục kích. Chúng nổ súng, mọi người chạy tán loạn. Chị Mi** và vài người chạy thoát, còn một số bị bắt cùng hàng hóa của họ và một đống can xăng dầu của chị. Những người bị bắt được đưa về giam ở chi khu khai ra số xăng dầu đó là của chị Mi**.
Nhà chị có 3 mẹ con, mẹ chị thì đang ở tù ngoài Quảng Ngãi. Tối ấy không thấy chị về – Bé Hạ** – em gái của chị – khi ấy mới 6 tuổi khóc rấm rức. Tôi chạy qua dỗ dành và dẫn em qua nhà mình ăn cơm.
Sáng hôm sau, Ông Bì** là ấp trưởng thôn Vùng 5 cùng hai người lính đến nhà chị Mi**. Thấy nhà không có ai, ông Bì** bước qua nhà tôi và hỏi mẹ tôi.
– Chị có thấy con Mi** đâu không?
– Qua nay không thấy, chắc nó đi Quảng Ngãi thăm má nó ở tù đấy mà
– Nó đi tiếp tế cho cộng sản chứ thăm má cái gì! Tôi đã thu được mấy can dầu của nó. Nó trốn rồi phải không?, nó về, chị bảo nó ra trình diện với chính quyền nghe chưa?
Đêm sau chị Mi** về nhà vào buổi tối thăm dò, nhờ mẹ tôi nói hộ với ông Bì**, nếu không bị bắt thì mới dám ở nhà. Cách mấy ngày sau Ấp trưởng Bì** đến nhà tôi và hỏi.
– Con Mi** mấy hôm nay có về không?
– Nó về ban đêm nhưng không dám ở lại sợ chú bắt – Mẹ tôi nói
– Thôi, bảo nó về đi, tôi không bắt nó đâu
– Chú hứa với tôi đi, mẹ nó ở tù, kẹt tiền sinh sống, nó mới theo họ đi buôn kiếm ít đồng nuôi em, chứ có tiếp tế cho cộng sản gì đâu! Nó trốn, bỏ em nó bơ vơ một mình phải chạy sang ở với tui vầy thấy không? Nói đoạn mẹ tôi chỉ tay vào bé Hạ** đang đứng khép nép gần đó.
Ông Bì** nhìn bé Hạ** ra chiều thông cảm, rồi nói.
– Thôi, bảo nó về lo cho em nó đi, tôi không làm khó dễ gì đâu
– Chú hứa rồi đó nghen, nếu chú bắt nó thì cách mạng họ sẽ qui cho tôi là dụ nó về để quốc gia bắt, chừng đó họ sẽ bắt tôi thì chết.
Đêm ấy chị Mi** mò về, được nghe mẹ tôi nói lại như vậy mừng lắm. Nhưng sáng ra còn sợ nên vẫn trốn trong hầm suốt mấy ngày liền. Rồi sau đó cũng lên sống bình thường, không thấy ai làm khó dễ gì nữa.
Trong xóm cũng có một người đi buôn đô la, đó là bà H*. Bà H* có chồng chạy núi làm cán bộ huyện Đức Phổ nên đi buôn để tiện thăm và tiếp tế cho chồng. Lần đầu bị địch bắt tại trận khi trong xách có đô la. Chúng đưa ra nhà tù Quảng Ngãi tra tấn đánh đập rất dã man. Mấy tháng sau mới thả về với thân hình tàn tạ ốm nhom như một thây ma. Thời gian sau khỏe mạnh dần, bà lại đi buôn đô la và bị bắt tiếp. Biết được bà H* có chồng là cộng sản gộc nên tụi cai tù càng tra tấn dữ hơn. Chúng nhốt bà trong thùng phuy trong nhà tù nóng nực, vài tuần sau bà đã chết trong nhà lao, bỏ lại 4 đứa con trong một căn nhà tranh trống hươ, trống hoát.
Thời gian này các trận đánh nhau càng gia tăng. Mỗi tháng tôi chỉ đi học được chừng 15 hôm. Tuy nhiên những bài học thuộc lòng khi đó rất hay. Mãi đến bây giờ cũng không quên được. Như các bài:
– Em yêu cô giáo lớp 5
– Trâu ơi! Ta bảo trâu này
– Gia đình êm ấm
.v.v…
Gia đình êm ấm
Đêm về dưới mái nhà tranh
Em cùng các chị các anh học bài…
Ngoài kia mặt sức gió mưa
Nhà em êm ấm chẳng thua nhà nào!
Có nhà ai mà êm ấm thế? Tôi nằm trong hầm học bài này mà liên tưởng đến gia đình mình, đến mọi người chung quanh. Nhà ai cũng có người chết, nhà ai cũng chịu cảnh li tán vì bom đạn. Có thấy gia đình nào như trong bài học thuộc lòng này đâu? Khi nào mới hết chiến tranh? Để cho người dân quê tôi mới hết khổ? Bây giờ chỉ cần khỏi phải ngủ hầm cũng là “êm ấm” lắm rồi!
Bão lửa
Ở Miền trung thường xãy ra bão lũ hằng năm vào tháng 8 đến tháng 10 AL, nhưng tháng 4 AL năm 1972 ở Quảng Ngãi có một trận bão kì lạ. Gió thổi từ nhẹ đến mạnh dần thành bão làm nghã đổ cây cối nhưng chẳng hề có một giọt mưa, người ta gọi đó là bão lửa. Đó là bão của thời tiết. Mọi người đâu biết rằng từ mùa hè năm đó đến cuối năm nhiều trận bão cuồng phong của bom đạn chụp xuống quê tôi liên tục.
Thôn vùng 5 xà Phổ Thuận có một vị trí rất thuận lợi cho trận địa phòng ngự. Thôn nằm hai bên đường QL1 Trước mặt thôn, ở hướng nam là thôn vùng 4 có cái đồn Quán Vịt cách nhau một cánh đồng trống. Phía bắc cũng cách đồn lính ở cầu Nước mặn một cánh đồng trống. Địch muốn tấn công từ hướng bắc thì phải đi qua cầu hoặc phải vượt qua con suối Nước Mặn (là ranh giới của 2 huyện Đức Phổ và Mộ Đức). Phía tây thì làng xóm trải dài lên đến đường xe lửa, qua Phổ Phong đều là vùng giải phóng. Từ ngày lính Mĩ rút đi thì đồi Chóp Vung và núi Xương Rồng cũng bỏ trống. Lính ngụy không đủ quân để đóng trên ấy mà chỉ gắng sức bảo vệ tuyến đường QL1. Phía đông thôn Vùng 5 thì làng xóm cũng trải dài đến xã Phổ An là vùng du kích. Bởi vậy các lực lượng vũ trang của huyện Đức Phổ liên tục tổ chức các trận đánh tại đây. Do đó mà người dân xóm tôi phải liên tục chui xuống hầm đội đạn pháo mỗi khi đánh nhau
Lính biệt động quân về làng
Chiều nay một sắc lính mới lại kéo tới làng. Đó là một đơn vị biệt động quân. Lính biệt động quân mặc sắc phục và trang bị khác hẳn lính địa phương quân. Quân phục rằn ri loang lỗ, trên vai áo có hình một cái đầu cọp nhe hai hàm răng đỏ lòm, trông thật khủng khiếp. Chúng đi từ đồng ruộng kéo vào làng rào rào. Lính thì đội mũ sắt mang ba lô, súng và bên hông đeo 4-5 quả lựu đạn, rất nhiều súng M72, vài khẩu trung liên và một khẩu đại liên. Tên đại đội trưởng thì chỉ mang súng ngắn, đầu đội mũ bê rê màu tiết dê, trên tay cầm cây gậy đi đi, lại lại chỉ trỏ phân công cho các trung đội. Một tên lính bưng tới một thau nước và cầm cả một cái khăn mặt cho viên sĩ quan lau mặt. Vài tên lính lấy cây thọc mấy trái đu đủ hừng trước nhà rồi dùng lưỡi lê gọt ăn ngồm ngàm. Tôi đứng đó mà cảm thấy thèm thuồng, vì chẳng mấy khi được hái ăn như vậy, cây trái trong vườn thường được đem ra chợ bán để lấy tiền chi tiêu hằng ngày.
Vài tên lính thì hì hục đào một cái hố không sâu nhưng rất rộng ngay trong vườn nhà tôi để đặt khẩu đại liên. Tên lính người thượng vừa loay hoay đặt khẩu đại liên, vừa nheo mắt cười đùa với tôi thì tên chỉ huy đi ngang qua chỉ tay và nói
– Ê! Đ.m. Mày không lo đào hố mà còn giỡn hả?
Tên lính thượng tái mặt cuối xuống tiếp tục ôm khẩu đại liên day qua day lại để chỉnh sửa. Đến giờ ăn, các tên lính lấy trong ba lô ra những túm gạo sấy, mở ra chế nước từ bi đông vào để làm cơm ăn với đồ hộp. Gạo sấy là gạo lúa mì Ca na da đã được sấy chín, đựng trong bao nilon, trên bao có một vạch đỏ và ghi rỏ: “Đổ nước tới vạch nầy”. Đổ nước lạnh thì chờ 5 phút, nếu nước sôi thì chỉ cần 1 phút là sẽ có cơm ăn.
Một người lính thấy tôi đứng gần đó liền vẫy lại và đưa cho tôi một bịch. Mừng quá, chạy vô nhà mở ra hốt ăn sống, mùi lúa mì thơm phức, nhai trong miệng dòn tan như ăn cớm.
Đêm ấy lính thì nằm ở các hố chiến đấu còn tên đại đội trưởng và hai tên nữa thì ngủ trong nhà tôi, trên giường có mùng mền đầy đủ. Cả nhà tôi thì ngủ trong hầm. Sáng ra khi thức dậy thì bọn lính đã rút đi đâu mất rồi.
Xe tăng vào làng
Hai ngày sau thì bộ đội và du kích lại kéo đến làng từ mờ sáng. Cũng đào hố chiến đấu cá nhân như mọi khi. Mọi người đã quen với chuyện này nên sáng ra vẫn làm công việc bình thường, chỉ khi nào thấy bóng lính ngụy lố nhố ở Gò da thì mới chui vô hầm. Khoảng 8h bà Th** chạy qua nhà tôi.
– Trời ơi! Xe tăng bác ba ơi!
– Xe tăng đâu?
– Nó đi từ dưới đồng Ngâu lên Gò Da kìa!
Mọi người nhìn theo tay chỉ của bà Th** thì thấy từ xa lúc nhúc nhiều chiếc tăng M113 chạy khuất dưới ruộng lúa như cua bò. Nhìn ra phía trước bờ hào thì thấy các anh bộ đội khẩn trương đào sâu thêm các hố chiến đấu, có anh còn chạy bưng thêm các khúc cây, hòn đá đặt trước vị trí đặt súng trung liên và B40.
Tiếng ì. Ì… Của xe tăng vọng lại ngày càng rỏ hơn. Các nhà láng giềng như gia đình bà Mi**, bà Hộ*, bà Ki**… Cũng kéo nhau chạy qua.
– Chết mẹ rồi! Có xe tăng là đánh lớn lắm đó.
Mọi người chui tọt vào cái hầm “Đờ Cát” của ông ngoại tôi. Mãi hơn nửa tiếng sau trận đánh mới bắt đầu. Cũng như mọi khi, pháo dập rồi đạn nổ như bắp rang, nhưng lần này đạn M72, DKZ nổ dồn dập, tiếng đạn đại liên trên xe tăng nghe đùng, đùng, ò, ò… Át hết cả tiếng đạn AR15 và AK. Gần một tiếng sau xe tăng mới vào tới làng. Nghe tiếng xe uỵnh uỵnh cán qua bờ rào tre gãy rốp rốp và tiếng la ó của bộ binh chạy theo mà mọi người ngồi trong hầm đều xanh mặt. Nhưng lần nào cũng thế, đến cái đoạn lính đến miệng hầm gọi lên là sợ nhất.
– Ai ở trong hầm bước lên!
Mọi người chỉ chờ cái câu nói đó và đồng thanh la lớn lên nói rằng đây là người dân, và cũng run sợ nhất là khi bước lên trước hai họng súng đã lên đạn lăm lăm trước cửa hầm. Chỉ cần một sự giật mình nào đó là súng nhả đạn, hoặc vì quá hoảng sợ vì thấy trước nhà có công sự của bộ đội còn đầy vỏ đạn mà một tên lính nào đó ném lựu đạn vào hầm thì tiêu đời như chơi. Nhưng may mắn chưa có lần nào xảy ra như vậy.
Nhớ hồi năm 1969. Lính Mĩ tiến quân ra xóm 21 phía bên kia đường QL thì bị nổ một quả mìn chết hết 4-5 tên. Chúng tiến vào làng lần theo đường dây điện đến một căn nhà trong xóm. Biết dược du kích đã ở nhà này bấm mìn nên chúng bắt hết dân các nhà lân cận tập trung lại rồi nả súng bắn chết 11 người. Còn bây giờ là lính ngụy, dù sao cũng cùng dòng máu da vàng của người Việt, nên chuyện ấy không xảy ra.
Mọi người bước lên đứng khép nép trước miệng hầm. Súng đại liên trên xe tăng gần đó vẫn nổ ầm ầm. Một tên lính đi tới chỉ vào dì Th** nói:
– Chị kia! Cho xem thẻ căn cước?
Dì Th** lấy trong người ra tấm thẻ căn cước đưa cho hắn xem. Hắn cầm tấm thẻ lật qua, lật lại rồi nhìn chăm chăm vào mặt Dì. Bổng đâu một tên sĩ quan đi xộc xộc tới hỏi.
– ĐM. Cái thằng kia! Sao mày bỏ vị trí đi làm gì đây?
– Em…em… Thấy nghi nghờ nên hỏi giấy.
– Ai bảo mày?
Nói đoạn hắn quơ một cây củ mì gần đó quất xối xả lên đầu tên lính, gãy cả cây cháy mì bung lên trước mặt mọi người. Tên lính vùng bỏ chạy, rớt cái mũ sắt xuống đất lăn lông lốc. Hắn cuối xuống lượm vội vàng rồi ôm mũ chạy tiếp. Ai cũng trố mắt nhìn theo, muốn phì cười mà không dám. Tên sĩ quan ra oai xong cũng bỏ đi. Bổng từ phía xe tăng thấy một đám lính bu quanh, khiêng một người lính bị thương đi tới. Một người lính vội chạy vào bộ phản nhà tôi vác ra một tấm ván, đặt một đầu trên hè, một đầu dưới sân tạo thành một mặt phẳng nghiêng. Mấy người lính đặt người bị thương nằm xuống đó. Tôi chạy lại xem thì được nghe mấy tên lính nói với nhau. Lúc súng nổ thì người lính đó đang đứng trên xe. Một viên đạn nhọn xuyên qua vai làm anh ta lảo đảo, chẳng may khi ấy chiếc xe đang đứng gần cái giếng của nhà tôi. Thành giếng được làm bằng 2 tấm cống lù quây tròn lại. Tên lính nghã xuống va sườn vào tấm cống nên bất tỉnh. Các người lính lăng xăng hô hấp nhân tạo, và cứu chữa vết thương, một lát sau thì anh ta tỉnh hẳn. Thế mà tên chỉ huy chạy tới ri rô:
– ĐM.! Cái đồ ăn hại. Tao đã bảo ngồi xuống mà phách lối đứng lên để lãnh đạn. Cho mày chết!
– Chết thì chết! Tôi chả cần sống nữa đâu – người lính bị thương nói bằng một giọng bất cần đời.
Tên sĩ quan đưa chân đá 2 cái vào chân người lính bị thương, rồi bỏ đi. Tôi đứng trố mắt kinh ngạc vì thái độ phát xít của tên chỉ huy và tự nhiên thấy thương người lính kia vô cùng. Quay nhìn ra phía trước, thấy một đám lính bu quanh và chỉ trỏ cái gì đó. Tôi chạy tới xem thì Ối trời ơi! Một người bộ đội chết gục trên bờ công sự, mình mẫy nám đen vì quả đạn M72 nổ quá gần, trên bờ hố cá nhân võ đạn AK vung vãi đầy mặt đất. Sáng nay thấy mấy anh hì hục đào công sự, mà bây giờ còn một mình anh nằm lại, đồng đội không kịp mang đi. Ôi! Chiến tranh đau thương quá!
Trận chiến đã kết thúc từ lâu, Một số lính ngồi xuống giở bi đông ra uống nước, ăn cơm gạo sấy, mà không hiểu sao trên mấy chiếc xe tăng đạn đại liên vẫn cứ nổ chát chúa về hướng tây nghe điết cả tai. Từng tốp đạn gần bằng ngón chân cái vàng chóe văng lên tung tóe rơi vãi đầy đất. Một lát sau thì súng cũng im, những tên lính khom lưng trên xe và dưới đất dùa tốp đạn vào từng bao, từng bao. Đến chiều thì thấy mấy bà mua đồng tới mua hết mấy bao tốp đạn và chở đi bằng xe đạp. Thì ra chúng cố nổ súng thật lâu để bán đồng lấy tiền tiêu.
Mù cay
Có lần khi trận chiến căng thẳng thì địch bắn mù cay vào làng. Lúc đầu nghe cái mùi hăng hắc, rồi càng ngày mùi càng nặng. Chết rồi! Sao thở không được.
– Mẹ ơi, thở không được!
– Tức ngực quá, cay quá! Nghẹt thở quá – Trời ơi chắc chết mất!
Mọi người trong hầm nhốn nháo. Toàn thân nhíu nhíu như kim châm, giống như một đàn kiến lửa đang bò lên mặt mình tha hồ cắn.
– Có nước không? Có ai đó la lên
– Có!
– Chế ra khăn, nhanh lên!
Những người lớn chế vội nước ra khăn, mền, quần áo, xoa lên mặt trẻ em, xoa lên mặt mọi người và ụp mặt vào đó cũng đỡ bớt phần nào. Cũng may là chỉ nghẹt thở trong vòng 1 phút rồi sau đó dễ chịu dần và thở được.
Mù cay là loại vũ khí hóa học để làm ngạt thở đối phương, nó là loại vũ khí mà Liên Hiệp Quốc cấm sử dụng. Nhưng thỉnh thoảng địch vẫn sử dụng những lúc không giải quyết được mục tiêu nhưng chỉ bắn hạn chế vì chúng cũng sợ chết ngạt cả người dân thì sẽ bị Quốc tế lên án. Suốt cuộc chiến tôi cũng bị vài lần nghẹt thở trong vòng 1 phút vì mù cay thôi. Khi trái mù cay nổ sẽ tung ra một cụm khói màu da cam hung đỏ lan nhanh trong không khí gây ngạt thở, còn quả mù khói thì chỉ có khói trắng có tác dụng che mắt đối phương.
Những tấm ảnh Quảng Trị
Ngày nào đánh nhau thì chui vô hầm, ngày nào bình yên lại ôm sách vở đi học. Thời gian này là cuối tháng 9-1972. Trên đường đến trường, từ nghã tư Thạch Trụ đến chợ Mộ Đức chính quyền ngụy dán đầy tranh ảnh, áp phích tuyên truyền cho việc chúng tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Tôi ghé lại xem thì thấy hàng trăm bức ảnh chụp cảnh đổ nát của thị xã Quảng Trị và cảnh bộ đội Bắc Việt chết la liệt nằm đủ mọi tư thế. Có người nằm bật ngữa vắt qua một vách tường, có người thì nằm chúi đầu vào đống gạch, có đống 5-6 người nằm lộn nhào đủ kiểu. Trang phục chính qui có hai túi áo ngực, mang giày vải, nhìn trong ảnh rất giống áo quần của lính sư đoàn 2, chứ không giống bộ đội huyện Đức phổ hay mặc quần đùi, mang dép cao su như tôi thường gặp.
Xem qua những tấm ảnh ấy tôi mới thấy ở Quảng Trị chiến tranh ác liệt hơn ở quê tôi nhiều.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 8. Đại đội nữ Hồng Gấm, ba năm không hoa
Tập sau: Tập 10. Bia đỡ đạn trên quốc lộ
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


