Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 10: Bia đỡ đạn trên quốc lộ
· 18 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 10/23, thuộc Phần 3 – Mùa hè đỏ lửa. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Sáng nay cũng vẫn cái điệp khúc nằm trong hầm chờ đánh nhau. Lần này không có xe tăng M113 mà là hai chiếc xe tăng Đầu Bò. Tăng Đầu Bò là loại tăng có 4 bánh cao su to, chỉ chạy trên đường, không có lội ruộng được. Vỏ xe bằng sắt mỏng hơn xe M113, trên xe có đại liên, thành xe có các ô cửa kính nhỏ để nhìn ra được hai bên khi ngồi trong xe. Khi thấy hai chiếc xuất hiện ở gần đồn Quán Vịt là mọi người bắt đầu chui vô hầm. Rồi cũng đến cái đoạn bị lính gọi lên khỏi hầm. Nhưng lần này một tên lính quát:
– Tất cả mọi người lên đây xem cộng sản chết!
Tên lính kia mặc áo giáp, một tay cầm súng, tay kia cầm một cái cây. Ông tôi đi chậm, tên lính quất một cây vào vai và quát:
– Đi nhanh lên!
– Đi đâu đây cậu?
– Lên quốc lộ coi cộng sản chết!
Khoảng hơn hai chục người gồm phụ nữ, trẻ em và ông già bị lùa đi lên quốc lộ. Súng ở QL vẫn đang nổ rầm trời. Những tên lính nằm cả một hàng dài núp bên mép đường bắn lên xóm 21 ở phía tây đường. Hai chiếc xe tăng đầu bò thì đang đứng trên lộ bắn đại liên đùng đùng. Mọi người cuối xuống núp ở mép đường. Một tên cầm khẩu trung liên có hai cái chân hươ súng lên quát.
– Bước lên đường cái mau!
Đạn bay chíu chíu trên đầu, ai cũng sợ, nhưng ai cũng phải bò lên nằm giữa đường.
– Tản hàng một ra!
Nhìn hàng chục họng súng chỉa vào nhóm dân làng, ai cũng kinh hoàng, hoảng loạn. Thôi rồi! Chúng bắt lên đây để bắn. Trong hàng ré lên tiếng khóc la dậy đất.
– Chú ơi, đừng bắn!
– Đây là dân mà chú ơi! Không phải cộng sản đâu
– Mẹ ơi! Chết rồi mẹ ơi!
Tôi cũng nằm chúi mặt xuống đường lộ giữa trời trưa nóng bỏng khóc la, hoảng loạn, hai tay ôm bịt lấy đầu, chờ súng nổ vào mình, nhưng sao chẳng thấy. Đạn nổ rộ lên từ tụi lính dưới mép đường bay rào rào qua đầu. Một tên lính bò từ dưới mép lộ lên gần mọi người rồi quát:
– Mấy bà này xuống mép ruộng bên kia khiêng thằng cộng sản chết lên đây!
Hắn vừa bò sau lưng vừa chỉ vào mẹ tôi, bà Mi**, bà Hộ* và bà Th**. Bốn người phụ nữ bò xuống mép ruộng lúa nước phía tây đường và hì hục khiêng lên. Tôi và mọi người hé mắt nhìn thử thì Trời ơi! Không phải cộng sản mà là một tên lính ngụy chết tái ngắt. Mẹ tôi và bà Mi** níu hai cái tay, hai người kia khiêng hai cái chân còn mang đầy đủ đôi giày đinh. Tên lính nặng quá hay sao mà 4 người kéo lê, cái lưng cà xuống mép cỏ lề đường lộ, nước trên người hắn vẫn nhỏ xuống ròng ròng.
Khi thấy tên lính chết dưới ruộng nước được kéo lên thì mọi người mới chợt hiểu ra là mình bị bắt làm bia đỡ đạn. Rất may là trên xóm 21, bộ đội đã thấy dân làng nên không bắn vào hướng ấy. Một tên lính hung hăng đã dám vượt qua QL1 và bị trúng đạn nghã nhào xuống ruộng nước, không một tên nào dám bò qua để lấy xác, nên chúng xuống xóm tôi lùa dân lên nằm giữa lộ che chắn và lấy xác cho chúng.
Bốn người phụ nữ đã khiêng tên lính chết gần đến mép phía đông QL thì bổng “Ầm!”. Một tiếng nổ của quả đạn B40 trúng ngay chổ khẩu đại liên trên chiếc xe tăng đang đứng bắn, chỉ cách chổ dân làng chừng 10m. Tiếng nổ nghe không lớn lắm vì bị át trong tiếng súng các cở cũng đang nổ ran, nhưng thấy một cột khói trùm lên nóc xe. 4 người phụ nữ ném tên lính cái “bịch” xuống đường, chạy nhào xuống mép lộ. Hai tên lính trong xe vọt ra, máu me đầy trên mặt. Một tên la lên.
– Chết rồi mấy chị ơi!
Cả 4 người phụ nữ và 2 tên lính chạy chui vào cái cống gần đó (Cống số 2 trong hình). Bọn lính dưới mép lộ hoảng loạn nhốn nháo, bỗng một tên vùng bỏ chạy thì tiếp theo cả đám chạy rào rào theo sau hướng về đồn Quán Vịt. Tôi và bà con cũng bỏ chạy xuống mép lộ phía đông và chui vào cái cống ngay nghã ba đường rẽ xuống xóm (cống số 1 trong hình). Ở cống số 2, hai tên lính bị thương cũng chui ra cùng chạy theo đồng bọn. Mẹ tôi và 3 người kia cũng chui ra chạy ngược lại về cống số 1, nơi mọi người đang núp. Trên đường QL bỏ lại tên lính chết nằm bơ vơ cùng với hai chiếc tăng đầu bò.
Súng đã ngừng nổ. Mọi người ngồi trong cống khá lâu giữa chiến trường trời trưa im lìm vắng vẻ, rồi có một người nói.
– Bây giờ mình đi đâu đây, chứ chẳng lẽ ngồi đây hoài?
– Đúng rồi! Ngồi đây xíu nữa bọn lính kéo ra đánh nhau tiếp thì chết.
– Pháo sẽ dập ra bây giờ, chạy vào Gò Da thôi, nhanh lên!
Mọi người vùng dậy chạy rào rào theo quốc lộ về hướng đồn Quán Vịt. Khi ngang qua 2 chiếc tăng thấy đạn vung vãi ngổn ngang. Dù rất hoảng sợ nhưng nhiều người vẫn tranh thủ lượm thùng đạn xách chạy theo. Tôi và mấy người chạy sau không còn thùng trống, phải mở các thùng đạn đại liên còn nguyên, vàng chóe, đổ ào ra đường để lấy cái thùng không. Thùng đạn kích thước khoảng 30X20X20 (cm) có cả ron cao su dưới nắp, dùng để đựng bánh tết là tuyệt nhất. Nhiều người sau đó dùng để đựng vật quí giá rồi ném xuống giếng mỗi khi chạy tản cư, nhiều tháng sau vớt lên nước vẫn không vào được.
Con chim dồng dộc
Một con chim Dồng dộc từ dưới xóm bay lên theo đoàn người, nó đậu trên thành cống miệng kêu “Chiếp, chiếp!”. Tôi chạy lại đưa tay ra bắt lấy. Đúng là con chim của thằng Sươ** rồi! Hôm ấy thằng Sươ** đi thả trâu sớm nên không có mặt trong đám dân làng bị bắt. Con chim rất khôn, tự đi ăn rồi bay về chuồng. Mỗi khi chủ huýt gió gọi là nó bay đến đậu trên vai. Hằng ngày tôi vẫn chơi ở nhà thằng Sươ**, cũng huýt gió và đưa tay ra bắt thử nhưng chẳng khi nào con chim để cho tôi bắt được.
Thế mà hôm nay con chim lại tự sổ lồng bay theo dân làng và nó đứng yên để cho tôi nắm lấy. Ôi! Bom đạn chiến tranh làm cho cả loài chim cũng phải hoảng sợ.
Một tay tôi xách cái thùng đạn, một tay tôi cầm con chim chạy theo mọi người. Khi tốp dân làng chạy vào đến Quán Vịt thì một số người dân ở đó chạy ra hỏi thăm xem có ai bị sao không? Rồi mọi người chia về trú ở vài nhà xung quanh đó. Gia đình tôi và một số người trú ở tại nhà bà Ph**. Nhìn con chim trên tay tôi, thằng nhỏ trong nhà đó thích lắm. Thấy vậy mẹ tôi nói.
– Cho nó con chim đi! Chạy tản cư mà còn nuôi chim.
– Con chim khôn lắm, để con đem về trả lại cho thằng Sươ**
– Không được! Đưa ngay đi, không tao ném nó bây giờ!
Dù rất tiếc nhưng tôi vẫn phải đưa cho thằng nhỏ con chim, vì chẳng lẻ cầm hoài trên tay.
Chiều dần xuống, nhìn ra hướng Vùng 5 vẫn im lìm, hai chiếc xe tăng đầu bò vẫn đứng nguyên chổ củ. Một lát sau lính từ Đức Phổ ra tập trung ở Quán Vịt đông lắm, rồi pháo từ Gò Hội bắn tấp nập vào thôn Vùng 5 cả hai bên đường QL. Lính bắt đầu chạy lúp xúp theo hai mép đường tiến ra, khi đến được chiếc xe tăng chúng khiêng vội xác tên lính để nằm vắt vẽo trên thành xe và nổ máy chạy lui. Lúc nầy pháo và các cở súng bộ binh vẫn bắn dồn dập vào xóm 21, xóm 22 để yểm trợ cho 2 chiếc xe tăng chạy về Quán Vịt, và bọn lính cũng vừa bắn vừa lui dần. Hai chiếc xe chở theo xác tên lính chạy thẳng về chi khu Đức Phổ.
Tối đó bà Ph** nấu cơm cho mấy người tản cư ăn, vì ai nấy khi chạy đi cũng chỉ có một bộ đồ trên người chứ có mang được gạo cháo gì đâu. Đến đêm súng lại nổ rộ lên ầm ầm ở đồn Quán Vịt, mọi người vội vã chui xuống hầm. Pháo 105 từ Gò Hội lại bắt đầu bắn dồn dập quanh Gò Da, Quán Vịt. Hơn 20 người nhét trong cái hầm ngột ngạt, mỗi lần pháo nổ là căn hầm rung rinh, đất từ trên nóc hầm rơi xuống đầy đầu. Hầm nầy không kiên cố bằng cái hầm “Đờ Cát” của ông tôi. Thời gian này chúng lại hay bắn pháo lùi, hay còn gọi là pháo chuột, tức là trái pháo khi chạm đất thì chui xuống 1-2m mới nổ, nên tôi lại càng sợ hơn. Còn ban ngày thì chúng lại hay bắn pháo chụp, pháo chụp là loại pháo khi đến cách mặt đất vài mét thì nổ trên không trung, các mãnh pháo văng bủa xuống như một cái nôm chụp cá, gây sát thương rất lớn.
Pháo chụp và pháo lùi đều rất nguy hiểm. Có hầm đã bị pháo lùi nổ tung từ bên trong. Hầm bà D. bị viên pháo lùi chui vô vướng chết một người con trai rồi chui ra ngoài mới nổ. Thật khiếp hồn! Đúng là rủi ro nhưng mà lại rất may mắn. Vì hôm ấy có gần 10 người ở trong hầm.
Đêm vây đồn Quán Vịt
Đạn pháo vẫn đang nổ đì đùng. Chợt mọi người nghe tiếng la rất lớn.
– B41 đâu? – B41 đâu?
Tiếng la to, giọng bắc trọ trẹ vang từ bên ngoài, cố tình cho bọn lính trong đồn nghe thấy.
– Thôi rồi! Hôm nay có cả bộ đội bắc Việt bao vây đồn Quán Vịt, chắc là đánh lớn lắm rồi.
Khi ấy tôi chưa biết B41 là súng gì, chắc có lẽ là loại súng có sức công phá ghê gớm lắm thì người bộ đội mới la to như thế để uy hiếp tinh thần của địch. Nghĩ thế lại càng sợ hơn. Trong hầm thì ngột ngạt hơi người, ai cũng mồ hôi chảy ròng ròng. Tiếng pháo vừa dứt được một hồi, ai cũng cố len lỏi ra ngồi gần miệng hầm để được hưởng chút khí trời.
Một vài người đàn ông chui ra ngoài đi tiểu. Tôi cố nhoài người ra miệng hầm, mẹ tôi kéo tay lại
– Không được ra! Pháo bắn tiếp thì chạy sao kịp?
– Con mắc tiểu quá rồi! Pháo hết bắn rồi mà, ra tiểu cái rồi vô liền.
– Ráng nín lại!
Bỗng “Ầm!” Một quả pháo nổ chát chúa ở rất gần, mãnh đạn bay rào rào vào mái tôn. Mấy người đàn ông chạy dạt vào miệng hầm.
– Có sao không? Có sao không?. Mọi người lao nhao hỏi.
– Bị mãnh sợt qua ống chân, ai có bông băng đó không? Một người thở hổn hển nói
– Có đây! Bị có nặng không?
– Không sao! Bị nhẹ thôi mà.
Mọi người đưa bông băng và dầu Miên cho người bị thương băng lại vết thương. Rất may là chỉ bị thương nhẹ ở phần mềm của chân. Phaó địch vẫn bắn cầm canh một lúc nữa rồi mới thôi hẳn. Đợi yên hẳn thật lâu, lúc đó nhiều người mới dám mò lên xả “bầu tâm sự” và hít một chút khí trời. Ôi! Nó khỏe khoắn làm sao, sau đó ai cũng lo vào hầm và ngủ ngồi vật vờ đến sáng.
Dưới gầm cầu Vinh Hiển
Từ mờ sáng mọi người lại ồ ạt kéo nhau đi tản cư. Kẻ lừa bò, người gồng gánh đi về hướng nam. Một loạt đạn “tành tành, tành” từ trong đồn bắn ra chiu chíu trên đầu, mọi người vẫn đi. Một quả cối M79 nổ “Ầm!” ngay trước đầu con bò, trúng chổ ruộng nước văng lên tung tóe. Con bò nhảy ngược trở lại, ai cũng kinh hoàng la oai oái. Lính trong đồn muốn chặn người dân lại để dựa hơi. Mọi người đứng khựng và không biết đi đâu thì một người nói.
– Nó bắn dọa đấy, cứ đi thôi!
Lùa mấy con bò đi trước rồi đoàn người cũng ùn ùn theo sau. Địch cũng thôi bắn, và đoàn người chia thành nhiều hướng đi về những nơi không có chiến sự. Gia đình tôi và một số người không biết đi đâu xa, bèn đi đến cầu Vinh Hiển. Bà Bí** chửa cái ruột to thè lè cũng gắng bước theo, và nhóm người chui xuống trốn dưới gầm cầu. Cầu Vinh Hiển cách đồn Quán Vịt khoảng 300m nên cũng an tâm.
Lúc nầy bộ đội đang vây đồn Quán Vịt, lính vẫn ở trong đồn, hai bên vẫn không thấy đánh nhau, không gian vẫn im ắng lạ thường.
Ngồi dưới gầm cầu Vinh Hiển từ sáng mãi đến xế trưa vẫn không thấy động tĩnh gì. Bụng đã đói cồn cào, mọi người quyết định đi về nhà, ai về nhà nấy. Về nhà vẫn có hầm và có ăn, chứ ngồi mãi ở đây để nhịn đói sao?
Tôi chạy theo ông bà ngoại và mẹ trên QL1 đi ngược trở ra Vùng 5. Khi đi ngang qua đồn Quán Vịt thì bổng giật mình thấy xác một người bộ đội nằm chết ụp mặt xuống đất trước cái lô cốt gần đường. Người bộ đội mặc một bộ ka ki màu nâu xám, trên lưng vẫn còn mang cái ba lô căng phồng, không hiểu đựng cái gì trong ấy mà nhiều thế! Màu vải ba lô cũng giống như màu quần áo, trên chiếc ba lô có vắt một cái rựa, còn súng ống đâu chả thấy, không biết có phải địch đã nhảy ra thu súng rồi chăng?. Đồng đội thì đang ngồi trong các bờ bụi bên ngoài, còn anh thì nằm đây một mình trước sân đồn giữa trời trưa vắng lặng. Có lẽ khi đêm anh không xác định được chổ đó có lô cốt nên ngang nhiên đi trước họng súng kẻ thù, mà lại mặt bộ đồ màu sáng như thế? Lúc này tôi cũng đang đi qua cái lỗ châu mai đen ngòm ấy mà cảm thấy lạnh toát cả người, biết đâu một loạt súng bắn ra là tiêu đời, vì lính ngụy vẫn đang nằm trong ấy. Tôi nhìn thử vào lô cốt nhưng không thấy được gì.
Đi qua khỏi đồn Quán Vịt được khoảng 100m thì thấy bộ đội Bắc Việt ngồi đầy dưới cống. Một người mang súng Ak, sau lưng mang một cái vòng ngụy trang gắn đầy các nhành lá, tay đang lần theo đường dây hữu tuyến đi ra hướng thôn Vùng 5. Có lẽ ban chỉ huy đại đội hay tiểu đoàn ở ngoài ấy.
Trận bom chiều
Về đến nhà, mẹ tôi liền lấy gạo ra nấu cơm, ai cũng đói quá rồi. Cơm chín rồi, dọn ra chỉ ăn với nước mắm. Đang ăn cơm thì nghe có tiếng máy bay Hai thân bay rè rè trên đầu. Chiếc máy bay bay vòng mấy tua để quan sát, rồi “Bụp”. Một cột khói trắng bốc lên ở dãy gò mã sau xóm.
– Chết rồi! Chúng bắn mù để ném bom – Một người la lên
Hai chiếc phản lực đến tức thì ngay sau đó.
– Phản lực đến kìa, nó chuẩn bị ném bom, chui vào hầm mau!
Cũng vẫn là những gia đình lân cận chạy qua, mười mấy người, tất cả đều chui xuống một hầm của nhà tôi. Mọi người cần phải dựa hơi nhau trong cái giờ phút nghiêm trọng nầy.
Tiếng gầm rú của chiếc máy may nghe lộng óc, tiếp sau là tiếng nổ rền của 2 quả bom làm rung rinh, chao đảo cả căn hầm. Mỗi lần nghe tiếng máy bay ré lên là ai cũng nhắm mắt, đưa hai tay bịt tai lại và khóc la chờ chết, khi tiếng bom nổ xong thì vui mừng khi thấy mình vẫn còn sống.
Trước đây cũng từng thấy máy bay ném bom ở nơi khác, nhưng bây giờ là bom ném thẳng vào đầu mình chưa lần nào thấy hoảng loạn như thế. Cứ mỗi lần nghe tiếng rú của phản lực là tôi lại tưởng tượng ra hai trái bom đen trủi lao xuống chổ mình. Tôi níu vào tay mẹ vừa khóc vừa nói.
– Mẹ ơi! Bây giờ làm sao đây?
– Đành vậy thôi! Sau này con cháu nó về quật ra chôn chứ biết làm sao.
Nhiều năm qua chạy bom đạn biết bao nhiêu lần, chưa lần nào sợ đến mức phải khóc, nhưng hai ngày qua, Tôi phải hoảng sợ khóc la 2 lần. Sáng hôm qua khi bị bắt làm bia đỡ đạn trên đường QL và chiều nay đang hứng chịu trận bom này. Có điều lạ là tiếng rú của chiếc phản lực mỗi khi chúi xuống trút bom nghe to hơn cả tiếng bom nổ sau đó, chỉ tiếng gầm rú của nó thôi cũng làm những ai chứng kiến lần đầu cũng kinh hồn bạt vía. Thế mà mỗi khi máy bay chúi xuống ném bom thì lại nghe tiếng súng phòng không bắn lên. ” Đùng, đùng, đùng…..!”
– Ủa! Bộ đội họ núp chổ nào mà dám bắn lên thế? Họ không sợ nó sao?
– Sợ thì làm sao mà đi đánh giặc?
Máy bay cứ ném bom, súng bên dưới cứ bắn lên đùng đùng như thế suốt gần hai tiếng đồng hồ. Có người nói.
– Tức quá đi! Sao mấy ổng không thôi, để cho nó bay đi cho rồi mà cứ bắn lên chọc tức nó hoài thế?
Tôi cũng thầm mong tiếng súng phòng không đó đừng bắn nữa, để chúng ngừng ném bom thì may ra mình mới thoát chết, chứ liên tục thế này thì phải trúng hầm thôi.
Rồi tiếng bom cũng dứt, tiếng máy bay nghe xa dần, không gian trở nên im lìm. Thoát chết rồi! Mừng quá! Mọi người trong hầm bàn tán.
– Chúng ngưng ném bom rồi, chạy nhanh thôi!
– Đúng rồi! Chúng bay về lấy bom, chạy nhanh, không nó sẽ quay lại thì chết!
Mọi người chui ra khỏi hầm. Mẹ tôi quơ một ít đồ đạc, vài cái xong, nồi và xúc một mớ gạo bỏ vào đôi ghánh. Tôi thì ôm theo một chiếc chiếu và bưng một cái đèn hột vịt chạy đi theo đoàn người. Lúc này trời đã tối hẳn. Đêm ấy trăng sáng lờ nhờ cũng đủ nhìn thấy những bóng người hối hả đi qua bên cạnh những hố bom sâu hoắm to hơn cả những cái ao trong làng. Mọi người chạy lên QL và đi về hướng cầu Nước Mặn.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 9. Mùa hè đỏ lửa
Tập sau: Tập 11. Quê hương giải phóng
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


