Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 11: Quê hương giải phóng
· 18 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 11/23, thuộc Phần 3 – Mùa hè đỏ lửa. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Lên đến QL gặp một số người đi ra hướng bắc, có người hỏi.
– Ủa! Mấy bà sao đi ra hướng đó. Gặp lính ở cầu Nước mặn rồi sao?
– Chúng nó bỏ chạy lúc ném bom rồi!
– Vậy thì đi nhanh khỏi đây, ra đó rồi hãy tính.
Đoàn người đi đến cách cầu nước mặn 100m thì gặp rất đông bộ đội và du kích từ hướng tây, trên đường xe lửa đi xuống. Họ đi thành hàng dọc vội vã về hướng đường QL rồi đi về hướng nam, mỗi người đều mang nhiều súng đạn, có cả cái ruột nghé gạo vắt qua vai. Ở đây là khu vực đồng trống, có một số căn nhà tạm bợ che bằng tranh rạ của người dân các nơi chạy tản cư dựng lên bên bờ mương, ở để tránh đạn bom. Gia đình tôi vào ở trong một túp lều của một người quen. Mọi người lấy chiếu trãi ra dưới đất để nằm nghỉ qua đêm.
Tối ấy mọi người bàn tán không biết đánh lớn mọi nơi như vầy rồi thì mình sẽ chạy đi đâu, khi nào mới về nhà. Tôi nói:
– Đừng có về! Khi nào lính (Quốc gia) ra thì mình mới về
Bổng có tiếng “hứ” của một cô gái nằm bên cạnh. Mẹ tôi đưa tay khều tôi ra hiệu bảo im, tôi mới biết mình đã lỡ lời buông ra câu ấy, bèn nín thinh, nói thế có nghĩa là mình chạy theo địch. Mọi người, hầu hết đều không có cảm tình với lính Quốc gia, nên khi nghe tôi nói vậy cô ấy mới “hứ” lên như thế. Tôi ngại quá, rồi nằm im ngủ quên lúc nào không hay.
Quê hương giải phóng
Sáng hôm sau thức giấc thì nghe mọi người bàn tán xôn xao.
– Giải phóng rồi bà con ơi!
– Mau đi về nhà thôi!
– Lính ở Quán Vịt đã bỏ chạy vào Đức Phổ hết rồi
– Ngoài Mộ Đức thì sao?
– Chúng cũng bỏ chạy hết ra Đồng Cát (Thị Trấn huyện Mộ Đức)
Tôi cùng mẹ và ông bà mang đồ đạc đi xuống đường để về nhà. Dưới đường đã thấy du kích nam nữ khoát súng đi giữa ban ngày trên QL1, nhiều người dân cũng quảy ghánh, dắt bò đi đầy đường, gương mặt ai cũng hồ hởi, vui vẻ. Thế là từ nay quê hương mình đã được giải phóng, Vui quá!
Tôi về nhà, chui vào hầm ôm hết sách vở, chăn chiếu lên trên đem đi giặt, sướng nhất là tối hôm nay không phải ngủ hầm. Đêm đó, một đêm thanh bình đầu tiên được nằm tự do trên nhà, không hề phải lo lắng bom đạn, thật thỏa mái làm sao! Mọi người trò chuyện rôm rả, phán đoán về tình hình chiến sự sắp đến và ai cũng mơ cuộc chiến sẽ sắp kết thúc từ đây, dù có phải ăn hột muối cũng cảm thấy sung sướng lắm rồi.
Sau một đêm ngủ thỏa mái, tôi lại lấy xe đạp đi dạo chơi khắp làng. Bây giờ mới thấy rỏ sự hủy diệt ghê gớm của bom. Những hố bom to, đường kính mười mấy mét sâu hoắm, đất đá văng đè sập cả căn nhà sát bên, dưới hố bom, nước mạch đã nhỉ ra thành một cái ao to. Rất may là trận bom ấy không trúng căn hầm nào. Chỉ vài người bị thương do sức ép vì bom nổ quá gần, hơn nữa dân cư cũng thưa thớt nên bom cũng khó trúng. Bộ đội thì chắc là thiệt hại nặng. Tôi cưởi xe theo QL về gần đồn Quán Vịt thì không đi được vì vướng mấy hố bom to đùng chắn ngang đường. Bom nổ lật tung cả một đoạn đường nhựa vặn vẹo như đồi dốc, mà chỉ có người đi bộ mới qua được.
Thôi rồi! Bom trúng ngay cái cống mà hôm trước mà tôi đã gặp nhiều anh bộ đội đang núp dưới đó. Cũng phải mười mấy người đã bị vùi lấp. Sau đó vài tuần thì thanh niên, du kích có sang sửa lại đoạn đường đó rồi tôi cũng không biết họ có lấy được xác các anh lên không.
Những đêm mít tin
Đêm ấy tôi cùng thằng Bé, thằng Án* đi chơi khắp nơi. Mọi người đổ ra đường như đi hội, đi đâu cũng thấy họp mít tin, chổ mít tin để một cái bàn ở nghã ba đường, trên bàn có ảnh Bác Hồ, phía sau lá cờ mặt trận được căn bằng hai thanh tre và có cán bộ giải phóng đến nói chuyện thời sự, bên dưới ngồi nghe là một khóm người dân nơi xóm đó.
Nhiều đêm sau cũng vẫn thấy họp mít tin. Sau mít tin là văn nghệ. Các anh chị du kích hay nữ Hồng Gấm khi ấy hay hát các bài hát điệu dân ca bài chòi nói về quê hương Quảng Ngãi. Điệu dân ca bài chòi rất phù hợp cho những bài hát nói lên sự đau thương tan tóc hay khơi gợi lòng căm thù giặc. Từ đó và mãi sau này đến năm 1975 tôi cũng hay hát những bài ấy, nên bây giờ vẫn thuộc làu.
Suốt từ đầu hồi kí chỉ thấy toàn máu và máu, đến hôm nay mới thấy được hoa. Ngày đêm rầm rập tiếng chân người, đi đâu cũng thấy họp hành, nghe hát những bài ca ngợi quê hương đất nước. Tiêu biểu là các bài:
1. Ghé về thăm lại vùng đông
Ghé về thăm lại vùng đông
Nghe tình đất mẹ thắm trong tim này
Sa Huỳnh(1) vẫn mát bóng dừa
Biển xanh thuyền lại sớm trưa đi về…
(1): Địa danh của huyện Đức Phổ.
2. Ba Tơ quê mẹ anh hùng
Quê ta trăm núi ngàn sông
Ngọn cờ cách mạng vẫn in trong tim này…
Nhớ anh Kiệt, nhớ anh Đôn(3)
Trong đồn du kích áo sờn hai vai
(3): Trung tướng Phạm Kiệt và trung tướng Nguyễn Đôn – Nguyên là các cán bộ của Đội du kích Ba Tơ
Đội du kích Ba Tơ là tiền thân của các LLVT quân khu 5 sau này
3. Cô gái Ba Tơ dưới cờ giải phóng
Em được lớn lên trong chiếc nôi cách mạng
Đuốc xà nu thấp thoáng dưới cờ…
Em theo anh về Ba Dung, Ba Ngạn
Sống mái thuyền vượt thác sông Re
Trạm gác đầu đường Cái Mới
Thời gian nầy trường học nào cũng tạm nghỉ, bạn bè, thầy cô tứ tán về quê mỗi người. Tôi và lũ bạn cùng xóm cưỡi xe đạp đi chơi lòng vòng cả ngày lẫn đêm. Khi đi đến chổ đầu đường Cái Mới giáp với QL1 đã thấy một trạm gác bằng tôn được dựng lên bên cạnh cái hố bom còn nham nhỡ, bên trong luôn có một người du kích đứng gác, cạnh bên là cái khẩu hiệu:
Chào mừng xã Phổ Thuận được giải phóng!
Được viết rất to bằng sơn màu đỏ trên tấm băng rôn màu trắng, bên trên dòng chữ nhỏ hơn:
Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền nam Việt nam
Miền Trung trung bộ
Lúc nầy trên đường QL thấy nhiều người ghồng ghánh, khiêng vác đồ đạc đi về làng củ. Ông nội tôi cũng dỡ nhà chổ tản cư ở cống Ba Lù ven đường QL1 để về quê thôn Thiệp Sơn, bác Hai cùng 4 người con cũng chuyễn đồ về làm lại mái nhà tranh ở Gò Dinh quê ngoại gần đường Cái Mới. Thằng Sươ** cứ hỏi mãi tôi về con chim Dồng dộc của nó. Mọi người đều vui vẻ trong không khí của ngày quê hương mới giải phóng, còn nó thì lại rất buồn vì bị mất con chim khôn. Rồi vài hôm sau nó với gia đình, cùng với những người tản cư lên đây cũng dọn về quê cũ ở xã Phổ An. Còn tôi và mẹ thì vẫn ở lại với nhà ông ngoại ở thôn Vùng 5, vì nhà ông cũng chẳng còn ai.
Hằng ngày tôi vẫn đi trên đường Cái Mới, chạy qua lại giữa quê nội và quê ngoại, gặp cán bộ và du kích từng tốp nam, nữ đi trên đường. Có người cụt cả cánh tay, có một người sao thấy chẳng còn vành tai. Khủng khiếp quá! Khi đó những người dù là thương binh thì vẫn phải tiếp tục cầm súng, chứ nào được giải ngũ về nhà như sau này. Vì giải ngũ thì biết về đâu? Tôi hỏi thăm mấy người thì được biết người bị lẻo mất tai đó là ông D*. Ông D* là an ninh xã Phổ Thuận. Trong một trận chống càn, bị thương và bị tụi lính Biệt động quân bắt sống, chúng lẻo một vành tai và dùng báng súng đánh đập đến bất tỉnh rồi đem bỏ vào nhà thương Đức Phổ. Đến đêm ông tỉnh dậy và được một chị cơ sở ở đó cõng chạy trốn ra vùng giải phóng. Sau khi bình phục ông vẫn tiếp tục làm công tác an ninh của xã và thời gian sau đó tôi vẫn thấy ông hay nói chuyện ở các cuộc mít tin chào mừng quê hương giải phóng. Ông D* thì chỉ bị cắt một vành tai bên trái, còn ông Hai Ch** bị bắt trong trận Gò Bệu ở thôn Vùng 5 thì bị tụi cảnh sát quận cắt cả 2 tai. Đó là những nhân chứng sống để minh chứng cho tội ác của bọn ngụy quân, ngụy quyền!
Một hôm đang cưỡi xe trên đường thì gặp một chiếc trực thăng bay tới. Mấy người du kích vội ngồi xuống cầm lá ngụy trang, che trên đầu. Tôi cũng vội quăng xe, nhưng làm sao có lá để che, đoạn đường trống lổng, hai bên toàn đồng ruộng. Bẻ vội mấy cành lá tứ quí tí xíu ven đường và cũng bắt chước mấy anh du kích, ngồi xuống và che lên. Chiếc máy bay bay qua rất chậm và thấp lắm, chắc nó thấy rất rõ từng người bên dưới, nhưng sao chúng chẳng nổ súng. Nếu chúng bắn thì khó mà thoát được. Thật hú vía!
Nghe đài
Lúc nầy được mở radio nghe thỏa mái cả đài Hà Nội, đài Sài Gòn và đài phát thanh của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam. Đài của Mặt trận DTGPMNVN thường mở đầu bằng câu:
“Đây là đài phát thanh giải phóng. Tiếng nói của chính phủ Cáchmạng lâm thời Cộng Hòa Miền nam Việt Nam”
Cả ba đài đều phát đi những tin tức thời sự nóng bỏng về các trận đánh ở khắp nơi. Đài Hà Nội mạnh lắm, nghe âm thanh rất trong và rõ. Tôi nhớ hồi đó đài nầy phát đi bản tin: “… Quân ta đã giải phóng hoàn toàn hai huyện Đức Phổ và Mộ Đức”. Nhưng thực tế không phải vậy! Ở Đức Phổ quân địch vẫn làm chủ từ Ô. Lê Văn Duyệt trở vào thị trấn trên tuyến đường QL khoảng 2km. Ở Mộ Đức thì chúng vẫn giữ được thị trấn Đồng Cát. Ngày trước, hằng đêm ở trong hầm, tôi và mẹ cũng thường lén nghe đài Hà Nội. Mở thật nhỏ và lấy cái mền trùm lên sao cho vừa đủ nghe, vì sợ lỡ lính đi phục kích bên ngoài nghe thấy. Có người đã bị tịch thu radio khi mở đài Hà Nội. Vậy mà có lúc lò mò trong bóng tối để rà sóng chọn đài thì lại mò trúng cái Volume làm nó phát to lên oang oang, giật mình thót tim, vội vã mò tìm contac để tắt đài.
Vào đồn Quán Vịt
Một hôm tôi cùng anh Chá**, con bác tôi đi vào đồn Quán Vịt để kiếm đồ về chơi. Bây giờ tôi mới có điều kiện quan sát cách bố trí của một đồn lính nghĩa quân. Các hầm quây lại thành hình vòng cung trong bán kính khoảng 15m bao quanh cái sân đất, ở chính giữa sân có một cái cột cờ. Các hầm được làm bằng các thanh sắt và nhiều tấm ri sắt, bên trên chất nhiều bao cát hoặc đắp đất dày lên, bên ngoài là 5, 6 lớp rào kẽm gai gồm bờ rào thẳng và hàng rào bùng nhùng, chỉ chừa một cái cổng ra vào. Các hầm trong đồn thấy cũng chẳng kiên cố gì hơn so với cái hầm của nhà tôi. Nếu bộ đội huyện Đức phổ muốn tập trung lực lượng lại để nhổ cái đồn này thì cũng không phải là chuyện khó, nhưng quan trọng là hôm sau ta có đủ lực lượng để giữ nổi không? Bởi vậy cái đồn nó vẫn tồn tại đến năm 1972 là thế. Vì năm nay ta mở chiến dịch lớn nên mới chiếm được.
Chúng tôi dạo khắp đồn mà chẳng tìm được cái gì đáng giá. Anh Chá** thì tìm được cái ống nghe còn cả cái dây xoắn lò xo của máy thông tin, tôi thì tìm được cái bao da súng ngắn đem về mang chơi. Hằng đêm nằm võng ở ngoài sân, cầm cái ống nghe giả bộ gọi máy bay đến, một lát sau thấy một chiếc máy bay có đèn nhấp nháy bay từ xa thì chúng tôi lại cười ồ vì cho rằng máy bay đã nghe tiếng gọi của mình. Đâu đó vẫn nghe những tiếng nổ đì đùng, nhưng ở rất xa tận mãi nơi thi trấn cách cả 10 cây số, còn quê tôi trong thời điểm nầy thì thực sự đã thành vùng giải phóng, không còn thấy cảnh bom đạn nữa.
Trước đây, hàng ngày mọi người vẫn ăn cá biển từ Sa Huỳnh chở ra bán ở các chợ, còn bây giờ ở thị trấn Đức phổ, địch vẫn còn chiếm giữ nên không có cá từ Sa Huỳnh ra. Lúc đầu thì còn nước mắm để ăn, sau đó hết nước mắm thì bắt đầu ăn muối trắng với cơm. Nhưng dù có ăn muối thì mọi người vẫn vui vẻ vì khỏi phải chịu bom đạn, khỏi phải ngủ hầm là sướng lắm rồi.
Thời gian sống trong thanh bình đâu được hai tháng thì tiếng đạn pháo bắt đầu nổ rộ từ hướng thị trấn lan dần ra đến quê tôi. Bọn địch đã bắt đầu phản công!
Anh nuôi và mớ rau muống
Thời gian này những người dân quê tôi đều có một ấn tượng khó phai trong lòng, đó là hình ảnh của những người bộ đội Bắc Việt. Ở đâu cũng nghe dân chúng kể về anh bộ đội với những lời lẽ thân thương nhất, mà lớp bộ đội sau này không có được. Họ kể về việc các anh đóng quân trong làng mà chẳng hề đụng đến một cọng rau, một trái ớt của dân, Ở nhà dân thì luôn quét dọn, ngăn nắp sạch sẽ. Khi cần thứ gì thì bao giờ cũng hỏi mua và trả tiền sòng phẳng, nói năng lễ phép, dịu dàng. Chả bù cho lính ngụy thì chuyện bắt gà, bẻ bí là chuyện thường xuyên.
Hôm ấy có 3 người bộ đội đến nhà tôi, hai người đi tay không, còn một người quảy một đôi thúng để hỏi mua rau muống. Anh nuôi quảy thúng mặc bộ đồ bạc màu rộng thùng thình, áo bỏ vào trong, quần thì cao lên gần cái ống quyễn, thắt cái dây nịt Trung Quốc eo lại ở giữa rất nhỏ giống như một con ếch. Gương mặt thì quá thật thà và hiền từ.
Mẹ tôi chỉ ao rau muống trước nhà, bảo anh xuống đó cắt bao nhiêu cũng được. Hai anh kia thì đứng ở sân nói chuyện với ông Sáu – người bà con của tôi.
– Các chú quê ở đâu?
– Cháu ở Ninh Bình ạ!
– Còn cháu thì ở Nghệ An!
– Có ai ở Hải Phòng không?
– Dạ! Ở đơn vị cháu cũng có mấy người ở Hải Phòng. Ủa! Thế bác cũng biết Hải Phòng à?
– Hồi trước, tôi cũng hay đi buôn ở Hải phòng. Các chú đi vầy thì có liên lạc gì về nhà không?
– Dạ, mấy năm rồi ở nhà cũng chẳng biết tin tức gì đâu.
Tôi đứng nghe mà hình dung ra quê của các anh xa lắm, vì khi học địa lí, tôi vẫn hay vẽ bản đồ, các tỉnh ở Miền bắc đều biết rõ. Giờ này các bà mẹ ở nơi xa ấy có biết được con của mình vẫn còn sống và đang ở đây không? Hay là lại nghe đài “Mẹ Việt Nam” báo tin con mình đã chết như tôi vẫn nghe những cái tên của những người con đã sinh tại Miền Bắc và phải chết ở Miền Nam trong những danh sách dài dằng dặc mà đài nầy thường đọc hằng đêm.
Cắt xong, người anh nuôi ghánh rau muống lên sân, đặt xuống và nói với mẹ tôi.
– Cho cháu xin gởi tiền rau ạ!
– Không tiền bạc gì đâu, cho các chú ấy mà!
– Cô cho cháu gởi tiền, cháu không dám xin đâu ạ!
– Thôi, có bao nhiêu đâu mà lấy tiền các chú. Hôm sau cứ xuống đây cắt về ăn
– Cô không lấy thì chỉ huy sẽ khiển trách cháu đấy
Hai anh bộ đội kia cũng bảo mẹ tôi lấy tiền, nhưng mẹ tôi vẫn không nhận. Cuối cùng rồi các anh cũng chỉ biết cảm ơn và đi về đơn vị. Ấn tượng về những người bộ đội thật thà lễ độ với nhân dân như thế vẫn lưu lại trong tôi mãi đến bây giờ. Thật xứng danh là bộ đội Cụ Hồ.
Địch phản công
Tiếng súng của địch phản công mỗi ngày nghe càng gần. Sáng hôm ấy mọi người bàn tán là nghe tin lính ngụy đã giải tỏa ra đến Trà Câu. Mọi người lại bắt đầu ghồng ghánh đi tản cư. Ông bà ngoại tôi thì ở lại nhà, tôi và mẹ cùng một số người chạy ra hướng Mộ Đức. Vừa đến gần cầu Nước mặn thì pháo 105 li từ Gò Hội bắn tấp nập vào hai bên quốc lộ 1. Mãnh pháo bay rào rào, mọi người chạy tứ tung. Tôi chạy theo mẹ ngược lên hướng thôn An Định rồi chạy lên tới đường tàu lửa. Tại cánh đồng ven đường tàu có những xóm nhà tranh tạm bợ mà người dân trong xóm chạy ra dựng lên ở để tránh bớt bom đạn. Trong cái xóm giữa đồng ấy thấy có nhiều bộ đội Bắc Việt cũng đang nai nịt súng đạn chuẩn bị xuất kích.
Chạy theo đường tàu một hồi đã đến thôn Thiệp Sơn quê nội của tôi. Tại một cái nhà ven đường tàu thấy có nhiều bộ đội xúm quanh một người bị thương nằm úp. Anh y tá đưa cái banh vào cố gắp cái mãnh pháo ở vùng trên thắt lưng, còn anh bộ đội bị thương thì kêu la thãm thiết, có lẽ chẳng có thuốc tê gì nên mỗi lần đưa banh vào là anh lại kêu la, mấy người kia thì cố giữ tay chân không cho anh thương binh giẫy dụa. Anh vừa trúng mãnh pháo trong loạt pháo đầu tiên sáng nay. Tôi đứng nhìn mà thấy thương anh quá, chắc là đau lắm! Mẹ tôi thì dục tôi phải đi, không biết rồi sau đó anh có qua được hay không?
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 10. Bia đỡ đạn trên quốc lộ
Tập sau: Tập 12. Hiệp định Pari và trận ngã tư Thạch Trụ
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


