Trang chủ Ký ức

Ký ức xa quê

Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 12: Hiệp định Pari và trận ngã tư Thạch Trụ

· 22 phút đọc

FacebookThreadsX
Ngã tư đường làng dưới gốc đa cổ thụ
Ngã tư đường làng dưới gốc đa cổ thụ. Ảnh minh họa.

Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 12/23, thuộc Phần 3 – Mùa hè đỏ lửa. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.

Về đến nhà ông nội tôi thì đã gần trưa, thấy ông tôi đang cuốc đất đắp thêm vào căn hầm. Từ năm 1969 sau vụ Mĩ đốt nhà đuổi đi thì mọi người tản cư đi tứ tán. Đến khi giải phóng vào mùa thu 1972 vừa qua thì một số rất ít gia đình mới trở về dựng tạm nhà, trong đó có nhà của ông tôi. Ngoài vườn vẫn còn tranh cỏ ngút ngàn, chạy vào vườn cũ của tôi khi xưa, vẫn còn đó cái nền nhà cháy, vài cây chuối vàng úa đứng rũ lá dưới nắng, mấy cây dừa xơ xác đứng im lìm. Nhìn ra xa các khu vườn hoang vắng lân cận, chỉ nghe âm thanh của tiếng cu gù thật buồn thãm. Trời đã về chiều lại nghe thêm nhiều tiếng con chim kêu “Bắt cô trói cột” mà mọi người hay dịch là “Ba cô hố cụt, nước nam khổ cực” làm cho khung cảnh càng thêm hoang vắng.

Mọi người ăn cơm trước khi trời tối. Nhìn lên đường tàu thấy một đoàn bộ đội đông lắm, mang đầy súng đạn và lá ngụy trang sau lưng, đi hàng dọc về hướng nam. Các anh đi lẫn trong bóng hoàng hôn của buổi chiều vắng lặng, giữa một không gian mà không khí ác liệt của cuộc chiến đã đến thật gần. Hình ảnh đoàn quân ra trận của buổi chiều tà hôm ấy nó in đậm một cảm xúc khó tả mãi trong lòng tôi về sau này. Nó không hề giống cái khí thế:

– Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trong bài thơ “Trường sơn đông, trường sơn tây” của nhà thơ Phạm Tiến Duật

Mà cũng chẳng giống 4 câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu trong bài thơ “Lên Tây bắc”

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang với gió đèo

Cả hai bài thơ trên đều rất hay nhưng không khí của nó rất vui tươi, còn chiều nay tôi nhìn theo đoàn quân mà cảm xúc buồn man mác vì nghĩ rằng sự chết chóc sẽ sắp đến với những người lính ấy.

Pháo hạm đội 7

Đang suy nghĩ miên man thì Bỗng: “đùng -Ầm”. Một tiếng nổ chát chúa sáng lòa chổ bụi tre. Mọi người chạy vội chui vào hầm. Tiếp theo là “đùng-ầm” liên tiếp quanh ấy sáng lòa hắt vào miệng hầm, chỉ cách hầm khoảng 20m, căn hầm rung rinh. Hầm ông nội tôi làm bằng đường ray và máng sắt tàu lửa, rồi đắp đất lên nhưng cũng không kiên cố bằng căn hầm Đờ Cát của ông ngoại tôi, và hôm nay đụng pháo 230li, nên tôi càng sợ hơn. Đúng là pháo 230 (gọi là cây nông biển) từ hạm đội 7 của Mĩ bắn lên rồi! Khủng khiếp hơn pháo 105 từ Gò hội, vì mọi kì vẫn nghe trước tiếng đề pa thì khoảng 5s sau mới nổ, mình vẫn kịp chạy vô hầm. Còn cây nông biển thì tiếng đề pa và tiếng nổ gần như cùng một lúc. Vận tốc đầu đạn bay bằng vận tốc âm thanh.

– Thôi, tiêu tan hai con trâu rồi! Mọi người nói

Đúng rồi! Hai con trâu khi chiều ông tôi cột chổ bụi tre ấy, có lẽ là banh xác ra từng mãnh rồi.

Đợt pháo chừng 15 phút thì dứt. Đợi thật im ắng rồi mọi người mới chạy vội ra chổ đôi trâu. Ơ kìa! Kỳ lạ thay, hai con trâu vẫn đứng đấy, cái miệng vẫn nhai nhai như không có chuyện gì xảy ra, vẫn đứng ở bụi tre, dây cột vẫn còn nguyên như có bàn tay thần linh nào che chở. Sáng ra thấy 2 hố pháo chỉ cách chổ cột trâu 5-10m. Chuyện thật là khó tin!

Đến tầm 9h sáng hôm sau thì pháo ở Gò hội lại nổ tấp nập về đồi Chóp Vung, mọi người trong xóm lại ghồng ghánh đi tản cư tiếp. Ra đến đường Cái Mới thì thấy pháo vẫn nổ từng cụm trên đồi. Đồi Chóp vung hình chóp nón, trên đỉnh rộng khoãng 80m2 nên chẳng có trái pháo nào rơi trúng ngay đỉnh. Nếu có chốt trên đó thì pháo có dập tới mai cũng chẳng trúng, mà có bộ đội nào đóng trên đó đâu mà chúng bắn dữ thế? Khi dự định tiến quân đến đâu là chúng nã pháo đến đó chứ chắc địch chẳng có điều kiện mà đi trinh sát trước.

Bây giờ chổ nào cũng bị bắn pháo hết thì biết chạy đi đâu? Mọi người đi về hướng QL1 rồi tỏa đi các nơi. Gia đình Ông nội tôi thì chạy vào trú ở nhà bác tôi ở Gò Dinh, tôi và mẹ chạy lại về Vùng 5 trú vào cái hầm Đờ Cát của ông ngoại cho chắc ăn. Ở Vùng 4 nơi vùng đồn Quán Vịt thì có bộ đội tổ chức phòng ngự còn ở Vùng 5 cách 800m về hướng bắc thì chẳng thấy có lực lượng nào. Hay là họ phòng ngự bên trên QL mà tôi không biết Chiều đó hai bên đụng độ nhau dữ dội ở vùng 4 tiếng súng đạn nổ suốt từ chiều đến tối. Sáng ra lính biệt động quân đã làm chủ thôn Vùng 4 và bắt đầu tổ chức tấn công ra thôn Vùng 5.

Cũng như mọi lần cả nhà tôi chui vào hầm chịu trận. Không thấy có bộ đội phòng ngự trước nhà như mọi khi nhưng có lẽ do trước đây địch đã đụng độ nhiều lần nên cứ nghĩ có lực lượng lớn bộ đội phòng ngự tại đây. Bắt đầu là một trận pháo như mưa rồi tiếp đến là hàng chục chiếc xe bọc thép M113 dàn hàng ngang trên đồng tiến ra. Tiếng đại liên nổ chát chúa như bắp rang. Ủa! Sao hàng tiếng đồng hồ rồi mà chẳng thấy chúng vào làng, cứ đứng giữa đồng nã đạn pháo vào. Thêm 30 phút nữa súng vẫn nổ như thế, nhưng bắn tập trung vào từng vùng, bắn vào xóm dưới dứt rồi tập trung bắn vào xóm giữa của tôi rồi sau đó không bắn nữa mà quay sang bắn tập trung vào xóm 21 bên kia QL. Mọi người trong hầm không hiểu chuyện gì, suốt 2 tiếng đồng hồ như thế mà không dứt. Ông tôi nói:

– Bây giờ phải chạy ra thôi!

– Chạy ra là chết! Mọi người phản đối

– Ở đây nó bắn hoài trúng hầm thì cũng chết – Lợi dụng lúc nó bắn về hướng khác mình chạy ra đồng

– Không được đâu! Ra ngoài là chết ngay

Ông ngoại tôi

Nói thêm về ông ngoại của tôi.

Ông ngoại tôi trước đây là một gia đình địa chủ. Năm 1945 ông làm chức Hương kiểm trong làng của chính quyền thuộc địa. Cách mạng tháng tám khởi nghĩa giành chính quyền, những người địa chủ tàn ác, các lí trưởng, Hội Đồng, nhiều người bị cách mạng chặt đầu nhưng ông vẫn bình an, vì khi làm Hương kiểm ông có tính thương người, hay giúp đỡ những người nghèo khó, không bắt bớ hay đánh đập ai. Và sau đó ông vẫn là người nông dân có nhiều ruộng đất, nhưng cái máu địa chủ vẫn còn trong người ông. Tính tình rất nóng nảy và gia trưởng. Mỗi bữa ăn đều phải dọn riêng cho ông một mâm cơm tươm tất và một mình ông ăn trước, sau đó cả nhà mới ăn. Nhiều lần thiếu thức ăn hoặc lỡ cơm khê hay sống là ông bưng nguyên cái mâm hắt ra sân.

Lúc đó bà ngoại sợ hãi lo dọn dẹp và nấu lại bữa ăn mà chẳng dám than vãn tiếng nào. Bởi vậy lúc nào lời nói của ông cũng như một mệnh lệnh.

Khi loạt đạn ở xóm tôi vừa dứt và chúng quay súng nổ vào xóm dưới thì ông nói:

– Chạy theo tao!

Ông vọt ra khỏi hầm thì bà ngoại, mẹ tôi và tôi cũng phải chạy ra theo. Ông mặc nguyên bộ đồ trắng, tôi cũng mặc áo trắng nên cũng hy vọng là lính trên xe tăng cũng không bắn mình. Trước nhà là cánh đồng nên chạy ra là tới đồng ruộng ngay. Bà ngoại tôi còn ghánh theo đôi suyễn để sẳn đồ dùng cần thiết khi tản cư chạy sụp lên sụp xuống trên bờ ruộng. Súng vẫn nổ điết tai, cả nhà chạy theo ông về hướng mấy chiếc M113 đang đứng nã đạn ngoài đồng. Chạy đến gần một chiếc thì các người lính trên xe đều chỉa súng về chúng tôi.

– Mấy người đi đâu đó? Một người lính quát

– Đạn nổ nhiều quá, tôi sợ quá phải chạy ra đây – ông tôi nói

– Vậy thì bác chạy ra phía sau đi – Một người lính có vẻ là chỉ huy nói và vẫy tay ra hiệu bảo đi ra phía sau

Cả nhà lại tiếp tục chạy ra phía sau xe đi về hướng mấy cái nhà ở giữa đồng phía dưới xóm Gò Da. Bà ngoại tôi bị té mấy lần nghã xuống ruộng, đôi suyễn bung ra văng cả cái nồi và chén đủa ra ngoài. Thật tội nghiệp!

Nhà ông tôi có một đôi suyễn mà trước đây do ông tự đan mấy tháng trời. Suyễn là vật dụng đan bằng tre rất công phu. Mỗi chiếc suyễn có 3 ngăn, trên mỗi ngăn có hoa văn rất đẹp được đan bằng những nan tre nhỏ, to xen kẻ khá công phu. Đôi suyễn được dùng để ghánh cau trầu, lễ vật trong dịp cưới hỏi rước dâu, giống như bưng quả bây giờ. Hồi đó cả xã mới có được vài đôi suyễn. Những người tổ chức đám cưới cho con hay đến nhà ông tôi để mượn suyễn. Khi xong việc bao giờ cũng lại quả nọng heo, bánh tét. Đôi suyễn là một tài sản quí giá, nên đi tản cư bà tôi luôn ghánh theo và trong đó không phải đựng các lễ vật cầu hôn mà để dựng gạo mắm, chén đủa dùng cho cái ăn hằng ngày.

Thực chất cuộc nổ súng không tiếc đạn và kéo dài cả buổi sáng nay của lính xe tăng là vì một phần dùng tiếng nổ để gây áp lực cho đối phương, mặt khác là để lấy được nhiều tốp đạn bán cho các bà buôn đồng kiếm tiền tiêu. Tôi vẫn thấy nhiều trận trước cũng thế. Khi chiếm được mục tiêu rồi mà súng đại liên trên xe tăng vẫn nổ mãi gần cả tiếng sau đó.

Cả nhà tôi chạy đến nhà bà Th* ở giữa đồng Ngâu. Bà Th* là dân Phổ An chạy lên một bờ mương đủ rộng làm nhà cho một gia đình bà để tránh bom đạn. Mẹ tôi nấu ăn bữa trưa ở đó. Chiều đến ông ngoại lại dẫn cả nhà chạy vòng theo đồng về Gò Dài. Tên là Gò Dài nhưng thực chất là một đụn cát bé tí tẹo chưa đầy 100m2 hình lum lum giống quả đồi, nằm giữa đồng cách ở phía đông xóm của tôi 300m. Mấy ngày trước ông tôi đã chuẩn bị vài tấm tôn và một ít cây tre dấu sẵn ở đó. Khi đến nơi liền dựng lên thành một cái trại để trú tạm và nấu cơm chiều ăn. Một chiếc chiếu cũng đã để sẵn ở đó, mền thì đã đem theo trong đôi suyễn. Thế là cũng tạm để nằm ngủ qua đêm. Những gia đình khác khi súng nổ thì trụ trong hầm hoặc cũng chạy loạn tứ tung mỗi người một nơi như thế. Chiều đó thấy nhiều cột khói bốc lên từ trong xóm. Có lẽ lính tăng và bộ binh đi kèm đã vào đóng quân trong ấy và tổ chức nấu ăn.

Hai ngày sau thấy có người dân trong xóm đi ra đồng thì mới biết tụi lính đã rút đi. Cả nhà liền vội vã đi về làng. Khi về đến sân thì hoảng kinh khi thấy có rất nhiều vệt máu chảy dài từ sân vô nhà. Chạy vào trong nhà thì thấy 5 cái đầu heo cùng chân, cẳng, xoong nồi văng tứ tung. Tụi lính đã làm thịt cả 5 con heo trong chuồng, nhưng ăn sang lắm, chỉ ăn ở khúc giữa thôi, đầu, chân đều bỏ hết. Khi ấy thì thịt heo đã bốc mùi hôi thúi, không thể tận dụng được, bèn dọn dẹp đem đi chôn.

Người không rời nhà

Trong xóm có một người đặc biệt không rời khỏi nhà khi có trận đánh. Đó là ông Chín Hù**. Năm 1969 vào một đêm ông bị trúng đạn đại liên của Mĩ vào đầu do từ trên đồi Chóp vung bắn xuống. Nhờ đưa ra Chu Lai và cũng do Mĩ chạy chữa nên vẫn sống nhưng liệt một bên người. Hằng ngày ông vẫn ngồi trên ghế trước hè, người nhà đặt tô cơm trước mặt, ông vẫn dùng một tay còn lại để xúc ăn. Mỗi lần chạy giặc thì ông vẫn ngồi đó, không thể xuống hầm được. Lần này chạy đi 3 ngày, với đạn nổ dày đặc và dai dẳng như thế thì ai cũng nghĩ chắc là ông sẽ trúng đạn hoặc đói mà chết mất rồi. Khi mọi người chạy về làng thì lạ thay, ông vẫn ngồi đó, trong khi quanh nhà lổ chổ các vết đạn. Trước mặt ông là một thau cơm có cả thịt heo, chắc là cơm của những người lính tăng xúc cho và thịt heo là thịt từ 5 con heo của nhà tôi. Và cuộc chiến tranh cứ tiếp diễn nhưng ông vẫn sống đến ngày hòa bình mới mất.

Lúc này lính sư đoàn 2 và biệt động quân đã khai thông QL1 trên suốt chiều dài huyện Đức Phổ. Từ ngày Mĩ rút đi thì đồi Chóp Vung bỏ trống. Bây giờ Lính sư 2 bắt đầu đưa quân lên chốt giữ ở đó. Mọi người cũng trở về nhà lo dọn dẹp lại nhà cửa, sân vườn bị đạn cày xới. Sáng hôm sau tôi cưỡi xe theo đường cái Mới về nhà nội, đến đoạn thôn Vùng 4 thì thấy một đống lù lù. Đến gần thì mới thấy xác một người bộ đội nằm chết bên mép đường, toàn thân nằm hẳn trên mép nhựa, ruột gan lòi cả ra ngoài, dòi bọ lúc nhúc. Xác chết đã gần cả tuần nay, đến kỳ phân hủy nên đx bay mùi hôi thối. Xóm này chỉ lác đác vài ngôi nhà của dân, và họ cũng mới trở về nhà nên chẳng có ai chôn. Một vài người đứng xem họ nói rằng trong hầm nhà ông Kh** cách đó vài chục mét cũng có vài xác bộ đội bị chết trong hầm do bị ném lựu đạn nhưng xác đã phân hủy hôi thối quá nên họ lấp luôn căn hầm làm mồ chung. Có lẽ những người bộ đội này vì xa lạ địa hình nên không biết đường rút chạy. Vài hôm sau tôi đi ngang qua thì đã thấy người dân đắp đất lên thành một ngôi mộ nhỏ cho người bộ đội chết ở mép đường ấy.

Chờ Hiệp định Pari

Lúc này đã gần tết năm 1973. Suốt gần cả tháng nay mọi người thường bàn tán về Hiệp Định Pari, nghe nói rằng khi Hiệp Định đã kí kết thì các bên sẽ ngừng bắn, Mĩ sẽ rút hết quân khỏi Miền Nam, hòa hợp, hòa giải dân tộc, chấm dứt chiến tranh, mọi người sẽ được sống trong hòa bình.

Ai cũng hồ hởi chờ đợi cái Hiệp Định Pari ấy. Ngày hòa bình thì sẽ vui sướng biết bao, như mong ước bấy lâu nay của người Việt Nam, mà trong lời một bài hát lúc đó người ta vẫn thường hát.

“Hòa bình ơi! Chờ trông nhau như con chờ mẹ

Chờ trông nhau như gió mùa hè…

Về đây hỡi người ơi!”

Người ta nói khi đã kí hiệp định thì bên nào sẽ ở bên đó, phần đất cắm cờ của bên nào là của bên đó. Có người còn nói:

– Bên Quốc Gia khi ấy sẽ cho máy bay phóng cờ xuống vùng giải phóng để chiếm đất

– Bốn bên kí hiệp định và Khi Mĩ rút quân thì người Việt Nam mình sẽ không bắn giết nhau nữa.

– Chỉ có Quốc Gia với Giải Phóng chứ bên nào mà tới 4 bên?

– Bên Miền bắc, Mặt trận Giải phóng, bên Quốc Gia và Mĩ – Một người có vẻ am hiểu nói

– Còn bên lực lượng thứ 3 chi?

– Lực lượng thứ 3 là lực lượng nào?

– Là lực lượng trung lập, không theo Cách mạng mà chẳng theo Quốc gia.

Thôi thì mỗi người đều bàn tán mỗi kiểu theo sự hiểu biết của mình, nhưng ai cũng biết rằng Mĩ sẽ rút quân và luôn mong chờ đến ngày ngừng bắn. Nhưng càng đến ngày ngừng bắn thì súng lại càng nổ nhiều hơn. Có lẽ lính ngụy cố gắng chiếm lại các vùng đất đã mất trước khi ngừng bắn.

Lúc này khoảng ngoài hai mươi tết âm lịch. Những ngày này thì tâm trạng đứa trẻ nào cũng háo hức được đi chợ tết, tôi cũng thế. Đi chợ tết để được mua vài món đồ chơi bằng nhựa, mua con heo đất… Nhưng chủ yếu là được đi ra chợ xem họ trưng bày hàng hóa tết, xem cái không khí nô nức chuẩn bị cho ngày xuân. Tôi hỏi mẹ:

– Mẹ ơi! Cho con tiền để đi chợ tết đi.

– Ủa! Mầy muốn chết hay sao mà đòi đi chợ tết?

– Qua nay đâu có nghe súng nổ gì đâu?

– Ngoài Mộ Đức bộ đội còn đầy ngoài đó – Chuẩn bị đánh nhau to mà đòi đi chợ!

Tôi thì nằng nặc đòi đi, nhưng mẹ tôi kiên quyết không cho. Mẹ tôi bưng ra một thúng nếp đã rang và bắt tôi ở nhà lượm thóc để đóng bánh nổ.

Sáng hôm sau hàng đàn xe tăng lội đồng đi ra, Trên QL1 thì nhiều chiếc xe GMC chở đầy lính biệt động từ Đức Phổ chạy ra và đổ quân xuống thôn Vùng 5. Thôn vùng 5 ở đầu phía bắc huyện Đức Phổ giáp với huyện Mộ Đức, ranh giới hai huyện là con suối Nước mặn, và một cánh đồng trống. Sở dĩ có tên là suối Nước mặn vì nó xuất phát từ con suối nước nóng tự nhiên ở phía tây Thạch Trụ. Nhân dân trong vùng gọi là Vũng nước sôi, chổ ấy tự nhiên có nước sôi từ dưới đất trồi lên giống như một nồi cháo đang sôi. Mấy năm trước, khi đi ở tản cư ngoài Thạch Trụ, anh em tôi mỗi chiều vẫn đi tắm ở chổ ấy. Tắm thật thú vị vào những ngày đông giá lạnh, nhiều người còn khiêng heo ra gần đó để lấy nước cạo lông làm thịt. Hiện nay ở đây người ta xây một khu nhà nghỉ có tên là “Khu nghỉ dưỡng suối nước nóng Quê Hương”. Mỗi lần tắm nước nóng trong bồn tắm nằm, ở trong phòng chỉ mất 7000đ, nhưng ở quê nghèo thấy chẳng mấy người vào phòng mà đa số tắm miễn phí ở ngoài Vũng sôi tự nhiên.

Nghã tư Thạch Trụ cách cầu Nước mặn 300m về hướng bắc. Phía đông Thạch Trụ có con sông Cái chảy từ bắc xuống nam, và nơi đây có đường lộ 5 (bây giờ là QL24) chạy lên 7km là tới dãy Trường sơn, bắt đầu thuộc miền núi, nơi ấy là vùng căn cứ cách mạng chạy dài lên tới Ba Tơ, Công Tum. Bởi vậy bộ đội đã chọn nơi đây làm nơi quyết chiến với địch để thực hiện việc giữ đất, giành dân trong hiệp định Pari.

Ngày ngừng bắn

Súng bắt đầu nổ rộ lên từ ngày 26-01-1973 ở hướng cầu Nước mặn. Tiếng pháo 105 từ Gò hội bắn ra, từ Đồng Cát bắn vào ầm ầm suốt cả buổi sáng, đến trưa thì có mấy chiếc phản lực đến ném bom. Tất cả bom đạn đều trút xuống chung quanh cái khu vực nghã tư bé tí, mỗi chừng 500m.

Sáng ngày 27-01-1973 là ngày có hiệu lực ngừng bắn theo hiệp định Pari. Ai cũng hồ hỡi chuẩn bị đón caí giây phút lịch sử đó, thế nhưng sáng nay sao lạ thế? Súng lại nổ to hơn. Thế là hiệu lực ngừng bắn chỉ là trên giấy, mọi người ngán ngẫm, không còn hy vọng gì đến hai tiếng “Hòa bình” nữa. Tiếng đại liên từ trên các xe tăng nghe ò ò, dồn dập như bắp rang. Lính sư đoàn 2, lính biệt động quân đổ quân ào ào xuống làng tôi, số thì theo QL1, số thì lội theo đồng, tất cả đều dồn về hướng Thạch trụ và trận chiến kéo dài đến chiều ngày 28-01-1973 mới kết thúc. Lính biệt động quân đã làm chủ được ngã tư. Cả hai bên đều thiệt hại nặng nề, lính ngụy thì xác bỏ vào từng chiếc poncho chất đầy lên từng chiếc xe GMC chở về thị trấn. Bộ đội thì bỏ lại rất nhiều xác chết và được nhân dân bỏ chung xuống những hố bom để chôn.

Hai ngày sau khi trận đánh kết thúc, tôi mới dám ra xem nơi bãi chiến trường tàn khốc ấy. Thật là một cảnh tượng kinh hoàng, Toàn bộ những nhà tường chung quanh nghã tư hoặc đổ sập, hoặc lổ chổ hàng trăm vết đạn, giống y hệt cảnh của thị xã Quảng Trị hay An Lộc trong mùa hè đỏ lửa 1972. Trên vách tường cao loang lổ, gần như chỉ con lại cái khung dầm của căn nhà 2 tầng cao nhất có một dòng chữ lớn, viết bằng vôi.

– Chào mừng tiểu đoàn 39 Biệt động quân tái chiếm Mộ Đức

Chắc đây là chữ viết của lính ngụy sau khi tái chiếm. Còn dưới hầu hết các nhà ven đường ở đâu cũng thấy dòng chữ của bộ đội viết bằng gạch.

– Hy sinh vì tổ quốc, quyết giải phóng Mộ Đức.

Vẫn còn thấy rất nhiều cái mũ cối, bông băng dính máu ở giữa những tường gạch nghã đổ. Có cả một cây súng trung liên có hai cái chân và cái hộp tiếp đạn tròn gãy cả báng súng nằm chỏng chơ bên cái thành giếng xi măng của một ngôi nhà ven đường. Nhân dân chạy loạn cũng đã trở về lo dọn dẹp gạch vỡ, cây cối bị đạn nghã đổ, và họ vẫn ở tiếp trong những ngôi nhà trống hoát nhiều lổ đạn như thế.

Điểm trao trả tù binh ở Phổ Phong

Trong thời điểm hiệp định Pari được kí kết, hai bên có qui định một điểm trao trả tù binh tại xã Phổ Phong là vùng giải phóng tiếp giáp với xã Phổ Thuận. Huyện ủy Đức Phổ đã cho làm lán trại có thể tiếp đón cả nghìn người. Hôm ấy có máy bay của ủy ban giám sát quốc tế hạ xuống Phổ Phong. Những người dân chạy tới kêu khóc và phản ảnh với quốc tế là súng vẫn nổ tiếp tục và dữ dội hơn sau ngày có lệnh ngừng bắn, họ yêu cầu ban giám sát quốc tế phải làm sao đem lại hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Và nghe nói trong đợt trao trả tù binh này phía VNCH đã đánh tráo trao trả tù chính trị bằng tù thường phạm, nên phía cách mạng không đồng ý. Vì những việc lộn xộn đó nên công việc trao trả tù binh ở đây đã bị bãi bỏ và chuyển hết về Lộc Ninh.

Thời gian này các nơi cũng đều đã im tiếng súng. Kết thúc một cái mùa hè đỏ lửa kinh hoàng kéo dài từ mùa hè cho đến những ngày cận tết, và người dân lại lo sắm sửa một ít bánh trái để cúng ông bà trong năm mới. Một mùa xuân mới lại đến.

Đọc tiếp

Tập trước: Tập 11. Quê hương giải phóng
Tập sau: Tập 13. Xuân 1973 và chuyến đi Sài Gòn đầu tiên
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa

Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.

Chia sẻFacebookThreadsX

Cùng chuyên mục