Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 13: Xuân 1973 và chuyến đi Sài Gòn đầu tiên
· 19 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 13/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Đón xuân 1973
Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa
Hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa
Em đứng chờ tôi trước song thưa
Hỏi nhau thầm xuân đã về chưa?
Tiếng hát từ một chiếc radio của một ngôi nhà nào đó văng vẳng từ mùa xuân năm 1973 khói lửa ấy cho đến tận bây giờ khi nghe lại ca khúc nầy vẫn phù hợp với hiện tại, và tôi vẫn thấy nao nao xúc động để nhớ về những cái tết tiếp nối đi qua trong chiến tranh được đánh mốc bằng những đêm giao thừa ầm vang tiếng pháo xen lẫn với nhiều tiếng súng. Để rồi những người thân lại vui mừng có dịp gặp nhau trong mùa xuân mới với đôi mắt nhòa lệ sau những ngày dài li tán.
28 tết, một đại đội lính sư đoàn 2 đã kéo vào làng tôi và đón xuân tại đây. Những người lính họ ăn gạo sấy và đồ hộp chứ không có nấu cơm. Có một người chỉ huy tên là Hạ** hay nói chuyện với ông tôi và hay mượn các đồ dùng như rựa, cuốc… Để cho lính đào công sự quanh vườn. Lúc này hai mẹ con tôi đã có một căn nhà riêng bằng tranh bé tí kế bên nhà ông ngoại. Dì Th** là chị em cô cậu với mẹ cũng chạy loạn từ Phổ văn lên tá túc tại nhà tôi. Đêm 30, mẹ tôi và bà ngoại bắt 3 ông táo bằng gạch giữa nhà để nấu bánh tét. Mọi người ngồi quanh bếp lửa để nói chuyện tết, có cả anh Hạ** là trung đội trưởng lính sư đoàn 2 và hai người lính khác. Mọi khi chiến sự nổ ra, gặp lính SĐ2 là sợ chết khiếp với những cảnh bắt gà, bẻ bí, đánh đập những người tình nghi… Nhưng hôm nay là tết, nên thấy họ cũng vui vẻ, nói chuyện cởi mở, chủ yếu là chuyện chiến tranh.
Mấy người lính cũng tỏ ra quá ngán ngẫm với cuộc chiến mà không biết bao giờ mới kết thúc. Họ chẳng biết chừng nào mới trút bỏ được bộ đồ lính trên người để trở về nhà. Anh Hạ** thì kể rằng khi đánh trận ở Quảng Nam ở cái núi gì đó mà rắn nhiều vô kể, Khi bị đánh bật chốt thì cả đại đội bỏ chạy, ông đại đội trưởng không chạy nổi trong rừng nhiều gai nên dẫn đơn vị chạy ra ngoài trảng trống bị du kích bắt sống cả đại đội, sau đó máy bay đến bắn giải vây…
Trước giờ giao thừa khoảng 30 phút thì tiếng pháo, tiếng súng bắt đầu nổ. Lúc 11h50 là lúc nổ rộ nhất. Mấy năm nay đồi Chóp Vung không có lính đóng quân, nhưng năm nay lính sư 2 đã đưa quân lên chiếm đóng lại, nên trên ấy là súng nổ nhiều nhất. Từng chùm đạn lửa vút lên trời đỏ lòm như pháo hoa cộng với hỏa châu sáng rực như đêm hội, thỉnh thoảng lại nghe tiếng “Ầm” của khối chất nổ sáng lòa. Ở các vùng du kích như An Định, Kim Giao, Phổ An các anh du kích cũng thi nhau bắn súng lên trời đì đùng, nhân dân cũng đốt nhiều pháo nhưng bị át đi bởi các tiếng súng. Cả hai bên đều thi nhau bắn lên để chào đón giao thừa, để tiễn đưa năm cũ và đồng thời cũng để cho bên kia biết rằng lực lượng mình hãy còn mạnh lắm.
Anh Hạ** xách súng chạy ra sân làm một tràng lên trời điếc cả tai, tốp đạn bay ra tứ phía. Tôi đứng đó khoái quá liền nói:
– Anh cho em bắn một phát đi!
– Mầy bắn được không?
– Được mà!
Anh Hạ** bèn khóa súng an toàn rồi đặt báng súng vào vai tôi, bảo tôi nắm chặt tay trái vào ốp che tay, tay phải nắm tay cầm và đặt ngón trỏ vào cò súng. Anh đẩy súng chổng lên trời rồi mở khóa an toàn và bảo “Bóp cò đi!”. Tôi hồi hộp, tim đập thình thình, đưa ngón tay siết mạnh cò. Một tràng đạn vang lên, báng súng giật vào vai làm người tôi và nòng súng day sang bên phải. Anh Hạ** cười và bảo:
– Bắn súng có sướng không?
– Sướng quá!
– Ít năm nữa đi lính rồi mày tha hồ mà bắn, lúc đó thì sẽ biết sướng hay khổ, tao mong cho mày đừng bao giờ phải cầm cây súng như tao.
Nghe súng đạn nổ từ khi mở mắt chào đời, nhưng lần đầu tiên trong đời được bắn súng AR-15. Súng giật nhẹ và êm chứ không mạnh như tôi nghĩ, sau này được bắn súng AK thấy nó giật mạnh hơn. Tôi đòi bắn tiếp nhưng anh Hạ** không cho. Hai người lính kia thì vẫn ngồi trong nhà, chẳng màng gì đến chuyện bắn súng đón giao thừa. Lúc này đã quá 12h nhưng súng đạn vẫn nổ rợp trời tạo thành một dàn đồng ca đặc trưng của đêm giao thừa trong thời chiến mà âm vang của cái không khí ấy thật khó quên trong đời.
Anh Hạ** mấy đêm trước vẫn ngủ trong nhà của tôi, còn các người lính thì vẫn nằm ngoài công sự, nhưng đêm nay anh Hạ** và hai người lính xách súng ra ngoài công sự. Chắc có lẽ họ ngại có mặt sáng mai mồng 1 tết ở trong nhà. Sáng hôm sau khi tôi thức dậy thì các người lính đã rút đi đâu mất rồi. Tự nhiên tôi thấy nhớ anh Hạ** và hai người lính ấy. Lần đầu tiên tôi có ấn tượng tốt đẹp về những người lính ngụy.
Tết năm ấy trong radio thường hát nhiều ca khúc về lính như: Xuân này con không về, Rừng lá thấp, thư xuân trên rừng cao.v.v…Đặc biệt, bài hát: “Xuân này con không về” tôi đã biết từ năm 1970. Khi ấy, có lẽ bài hát mới ra đời nên được nhiều người chào đón nồng nhiệt. Nó phản ảnh rất đúng tâm trạng của người lính xa nhà trong dịp xuân mới
Xuân này con không về
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương…
Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm
Mái tranh nghèo không người sửa sang…
Dù biết rằng bài hát do một nhạc sĩ của chính quyền Sài Gòn sáng tác, và phải hiểu người lính trong bài hát là lính ngụy nhưng lời hát hay quá mà mãi đến bây giờ ai cũng biết. Vì xúc động trước một nhạc phẩm hay mà ai cũng hát chứ không hẵn là hát lên để ca ngợi lính ngụy. Bây giờ trong các đám cưới, nhiều người và cả tôi cũng vẫn thường hát bài đó. Còn những bài nhạc trẻ bây giờ chẳng thấy mấy người hát cả.
Những trò nghịch ngày tết
Những ngày tết nắng vàng rất đẹp, không gian im ắng không hề có tiếng súng. Mọi người vui vẻ đón xuân trong những căn nhà lổ chổ vết đạn. Cũng có nhà vẫn trồng được bông vạn thọ và mào gà, ở ngã tư Thạch trụ bên cạnh những căn nhà đổ nát vẫn có vài ba hội xốc bầu cua. Tôi cũng cưỡi xe đạp ra đó chơi vài ván, lúc đầu thì ăn được nhiều tiền, rồi ham hố chơi tiếp cuối cùng sạch cả vốn. Mấy đứa bạn khác cũng giống y tình trạng như vậy. Tụi tôi quay về nhà nghĩ ra cái trò khác là gài mìn.
Lấy một lon sữa bò đã dùng, cột 2 bên 2 thanh tre bằng dây cao su, giữa 2 thanh tre quàng qua khoảng 5-6 dây cao su đeo tay. Lấy 1 tốp đạn AR-15 đặt vào trong các dây cao su rồi quay cho quấn lại nhiều vòng. Khi thả tay ra thì tốp đạn quay vòng sẽ va vào mặt lon sữa kêu reng reng. Cố định cái lon trong bụi ven đường, khi quay tốp đạn cho se dây cao su lại thì xỏ 1 cái que vào lổ của tốp đạn, que sẽ ganh lên mặt lon giữ cho tốp đạn khỏi quay tròn. Đầu que được nối với một sợi dây cước dăng ngang qua đường cột vào bụi cây bên kia đường. Khi có người đi qua vướng dây sút que ra là mìn nổ reng reng. Loại mìn này thường để làm giật mình mấy bà già thôi.
Dù trong khói lửa chiến tranh nhưng đến ngày tết, mấy cô, mấy bà vẫn diện những bộ áo dài đi chơi tết. Có một trò chơi quái ác mà tụi nhỏ chúng tôi thường làm là đặt trái pháo vào bãi phân bò cạnh đường, khi thấy các cô các bà chưng diện quần áo đẹp đi qua là lại mò ra đốt pháo. Pháo nổ làm văng phân bò tung tóe đầy người của khách đi đường, nhưng chỉ dám nghịch những khách lạ. Những lần như vậy thì cả bọn cười nghiêng ngữa rồi cùng nhau chạy trốn.
Tết năm nay tôi được mẹ dẫn đi thăm bà con tản cư ở trại định cư Trà Câu. Những người dân từ các vùng chiến sự ác liệt chạy về đây làm những căn nhà nhỏ bằng rạ san sát nhau. Ngày tết trước nhà cũng có trồng bông vạn thọ. Trong nhà thường treo một mảnh ván sát vách để làm bàn thờ cúng ông bà. Khách đến chơi thì ngồi trên giường hoặc trên một cái bân. Mọi người ăn bánh ngọt và hàn huyên lại những biến cố đau thương do chiến tranh gây ra suốt một năm qua.
Qua mồng 5 tết thì chị Án* của tôi ở Sài Gòn cũng về thăm gia đình, chị đem về rất nhiều bánh kẹo và hạt dưa. Nhà tôi vui nhộn hẳn lên vì ngày nào cũng có các anh lính nghĩa quân hay lính sư đoàn 2 đến chơi, ăn hạt dưa xả đầy nhà. Lính nghĩa quân mà gặp lính sư đoàn thì thường tránh đi chổ khác. Trung đội lính nghĩa quân về đóng đồn Quán Vịt đã thay nhiều lính mới. Những tên lính mới thì thường rất hung hăng nhưng gặp lính sư 2 thì cũng lãng xa. Lính sư 2 thì chỉ đóng quân vài hôm rồi rút đi nơi khác, chỉ còn lính nghĩa quân là ở một đồn cố định.
Một buổi sáng cả nhà tôi ra đồng đi gặt sớm. Mẹ tôi nhốt một con vịt trong giỏ để dưới sân và dặn tôi sáng nay đem về nội ăn giỗ. Một tên lính từ đâu đi tới, tay cầm súng, đầu đội cái mũ vãi sụp, thấy con vịt trong giỏ liền thò tay vào bắt. Tôi chạy lại nói:
– Con Vịt để tôi đem đi ăn giỗ mà sao anh bắt?
Tên lính chẳng nói chẳng rằng cứ xách con vịt đi. Tôi chạy theo la lớn.
– Trả con vịt lại đây cho tôi!
Tên lính cứ xăm xăm đi, những người hàng xóm đều ló ra nhìn nhưng chẳng ai dám nói tiếng nào. Tôi chạy theo một đoạn rồi thôi vì thấy cũng chẳng đòi lại được. Hôm ấy bực mình quá cũng chẳng thèm đi về nội ăn giỗ nữa.
Những người con nuôi của mẹ
Có chị tôi về, nhiều người lính đến làm quen và có nhiều người gọi mẹ tôi là “Má”. Sau một thời gian thì có anh Na* xin được làm con nuôi, mẹ tôi đồng ý. Các anh Ca*, anh Ti** cũng thường hay gọi mẹ tôi là “má”. Các anh ấy đều là lính nghĩa quân đóng ở đồn Quán Vịt, hằng ngày vẫn ra ở xóm tôi làm nhiệm vụ giữ an ninh cho đoạn đường QL1 từ cầu Vinh Hiển đến cầu Nước mặn. Từ ngày đến chơi và quen với gia đình thì lính nghĩa quân cũng không còn hung hăng nữa. Tôi cố nhớ lại thử tên nào bắt con vịt của tôi mà không nhớ được là ai, vì khi ấy hắn kéo cái mũ sụp xuống che bớt mặt nên tôi không biết rõ gương mặt hắn như thế nào
Không hiểu những người lính gọi mẹ tôi bằng “má” ấy là vì thấy chị tôi đẹp hay là muốn làm quen thân để lỡ có bị cách mạng bắt thì cũng có người nói giúp. Chắc có lẽ là vì cả hai lí do trên. Mẹ tôi thì chấp nhận làm má nuôi vì thấy cũng chẳng mất mát gì. Chấp nhận quen thân để cho tụi lính bớt hung hăng và cũng phòng khi có chuyện gì cũng đỡ. Nói chung là cả hai bên đều muốn dựa hơi vào nhau trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh thời bấy giờ
Sáng hôm nay, nhà ông bà ngoại tôi có tổ chức một cái tiệc nho nhỏ là đúc bánh xèo để ăn với thịt heo luộc. Có cả anh Ca* là lính nghĩa quân quen biết từ năm 1972 – Người mà hay gọi mẹ tôi là má – Anh Ca* dẫn theo anh bạn lính tên là Ti**. Anh Ti** là lính biệt kích mới xin chuyển về làm lính nghĩa quân ở đồn Quán Vịt hơn một tuần nay. Anh Ti** kể rằng khi làm lính biệt kích, hay đi với lính Mĩ trong rừng sâu để trinh sát hay tiêu diệt các toán quân giải phóng nhỏ lẽ trên rừng trường sơn.
Anh kể có lần đang đi thì thấy dưới hố có một cái võng có người nằm dưới một lùm cây. Lính Mĩ triển khai bao vây khu vực và tiến lại gần. Một tên bắn một phát M79 gần cái võng để đánh động nhưng sao chẳng thấy phản ứng gì. Cả toán biệt kích áp sát lại đầu võng rồi chụp bắt sống người nằm trong võng thì hởi ơi! Người bộ đội nằm trong võng đã chết từ đời nào rồi! Anh ấy bị sốt rét, nằm ngủ để rồi không bao giờ dậy nữa, bên canh võng còn một khẩu AK mới cáu. Sau này tôi cũng nghe nhiều người đi thoát ly về kể lại, khi đi trên các tuyến đường trường sơn cũng thấy những trừơng hợp như vậy. Nghe kể mà xúc động quá. Có lẽ, anh mệt quá nằm ngủ một tí mà không biết rằng mình sẽ ngủ luôn, cũng có thể trước khi chết vẫn biết được nhưng rồi biết trăng trối cùng ai? Đồng đội thì thấy mất tích, có khi lại nghĩ rằng đã B quay hoặc chiêu hồi.
Trong khi mọi người đang ăn thì từng loạt pháo từ Gò Hội bắn tấp nập xuống địa bàn xã Phổ An, sau đó có hai chiếc phản lực lộn nhào xuống ném bom. Từng đàn xe thiết Giáp càn qua ruộng lúa tiến về hướng ấy. Nhìn từ xa những trái bom đen trủi lao xuống, những cột khói đen bốc lên trùm cả xóm làng. Những người dân nơi ấy chắc cũng cực kỳ hoảng loạn, giống như tôi trong lần đội bom hồi năm ngoái. Lính ngụy đang thực hiện công cuộc lấn đất, giành dân sau hiệp định Pari.
Chiều hôm đó từng đoàn người dân ở Phổ An gồng gánh chạy tản cư lên xóm tôi. Thằng Sươ**, thằng Sâ*, thằng Án*, con Th**, con Vi**… Các bạn bè củ của tôi ở xóm tản cư, mới chạy về quê hơn hai tháng nay cũng theo gia đình chạy lên. Những người dân tản cư lại tiếp tục mua tre, mua rạ dựng lại những căn nhà bé tí trên mãnh đất bỏ hoang cạnh vườn nhà tôi để trú ngụ.
Chuyến đi Sài Gòn đầu tiên
Chị tôi về chơi tết một thời gian rồi trở vào sài gòn bằng chuyến xe Miền Trung. Sau đó vài tuần mẹ dẫn tôi ra thị xã Quảng Ngãi để mua vé máy bay vào chơi Sài Gòn. Thời chiến mà ở Quảng Ngãi vẫn có máy bay chở khách vào Sài Gòn nhưng bây giờ lại không có. Trước đây năm 1968 Tôi và mẹ cũng bị Mĩ bắt chở trên chiếc máy bay trực thăng CH-47 vào Gò Hội, nhưng ngồi trên trực thăng nhìn thấy rõ cảnh vật bên dưới. Còn lần này Khi may bay vút lên cao rồi, nhìn qua ô cửa chỉ thấy mây bay bồng bềnh. Khó chịu nhất là những lần máy bay giãm độ cao đột ngột thì người thấy nôn nao giống như trạng thái khi đi thang máy từ trên lầu cao xuống đất. Sau hai tiếng đồng hồ thì đến phi trường Tân Sơn Nhất.
Lần đầu tiên đặt chân đến thành phố, cái gì cũng mới mẻ. Những tòa nhà cao, đường phố tấp nập người qua lại. Những giao lộ đông đúc có người cảnh sát mặc đồ trắng đứng trên cái bục gổ đưa tay thổi còi điều khiển giao thông. Tại những công viên thường hay có các tượng đài gồm 3 người lính VNCH đội mũ sắt, tay cầm súng. Trên phố thì hay thấy trụ sở của Tín Nghĩa Ngân Hàng với hình ảnh một ông thần tài Tín Nghĩa miệng cười toe toét đưa hai tay dăng ngang, mỗi tay là một chuổi nhiều đồng tiền kên.
Điểm chị tôi dẫn đến đầu tiên là nhà Cô thứ năm của tôi. Cô Năm vào Sài Gòn trú ngụ ở gần trường đua Phú Thọ, cô cất nhà trên một cái ao rau muống. Mỗi khi vào nhà phải lội nước một đoạn. Chị em, cô cháu gặp nhau sao bao năm, mừng mừng, tủi tủi. Hỏi thăm về quê nhà chiến tranh ra sao, ai còn ai mất?, hỏi thăm về bà con chạy loạn vào Sài Gòn làm ăn thế nào? Năm 1967 Dượng năm là du kích xã Phổ Thuận, trong một trận chống càn đã hy sinh ở Bình Mỹ, năm 1969 sau vụ bị lính Mĩ đốt nhà đuổi đi, cô bồng bế 3 đứa con vào Sài Gòn để lánh nạn. Giữa chốn lạ quê người, cô phải đi phụ hồ để kiếm tiền nuôi con, một công việc rất cực nhọc, hằng ngày phải bê gạch, trộn hồ, ôm cả bao xi măng leo lên lầu. Nhiều khi không có công việc, nhà hết gạo phải chạy đi vay mượn qua ngày.
Trên tường nhà của cô có treo một tấm ảnh một người lính biệt động mặc đồ rằn ri, đầu đội bê rê. Hỏi xem là ai thì được biết đó là Dượng năm mới. Dượng năm mới là lính biệt động tham gia trận Đường 9 – Nam Lào năm 1971, bị thương binh do sức ép của pháo và đã giải ngũ về Sài Gòn đi làm hồ và gặp cô gá nghĩa vợ chồng. Trên gác, cô vẫn lập bàn thờ để thờ người chồng trước. Chiều đến Dượng năm mới về nhà cũng rất là niềm nở hỏi han. Nhưng nghe các em con cô kể lại là mỗi khi mẹ và bố dượng nó cải vã là ông ấy hay nói: “Ăn cơm Quốc Gia mà thờ ma Cộng Sản”.
Vài hôm sau lại đến nhà dì thứ 8 ở Gò Vấp. Dì chạy vào Sài Gòn và làm ở Trang Hai Dược Viện, sở làm của một ông chủ tư bản. Hiện nay là Xí nghiệp Dược phẩm số 4, nằm ở đường Ngô Thời Nhậm – Q3, chị tôi cũng xin vào làm ở đó. Dì Tám trốn chạy một cuộc hôn nhân do ông ngoại ép buộc, đã vào Sài Gòn từ năm 1965 nên tích lũy được một số vốn, chưa có chồng mới nhưng làm được nhà lầu, sắm được cái xe Mobilet màu đen, có bộ máy ở bánh trước. Nhà Dì ở xóm đối diện với Quân y viện Cộng Hòa, nay là Bệnh viện Quân Y 115- ở đường Nguyễn Oanh. Khi ấy xóm nhà còn cảnh nông thôn với lũy tre và đường làng rộng rãi, thấy cả những con tắc kè trong lùm cây ven đường. Tối đến, Dì Tám nói với mẹ tôi:
– Tối nay tôi sẽ dẫn chị đi xem múa sexy
– Múa sexy là gì?
– Là vũ nữ múa theo tiếng nhạc xập xình và lần lượt rơi các mảnh vải trên người, cuối cùng là trần truồng như nhộng và màn cũng hạ xuống và trên sân khấu đèn cũng tắt
– Coi cái gì vậy mà coi
– Kệ nó đi xem cho biết.
Tôi nghe thế lạ quá, háo hức để tối được đi xem thử thế nào. Nhưng đêm ấy mẹ tôi không đi nên cũng chẳng được thấy vũ sexy ra làm sao. Dì Tám còn kể cho mẹ tôi nghe những cô nào ngày xưa ở quê chạy vào đây bán bar cho Mĩ. Bán bar thì có nhiều loại, có thể là bán coca, bia rượu ở các quày bar, có thể là làm bồi phòng hoặc làm gái gọi phục vụ cho Mĩ. Nhưng gọi là gái bán bar lúc ấy thì người ta thường hiểu là việc làm nhơ bẩn, không đàng hoàng.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 12. Hiệp định Pari và trận ngã tư Thạch Trụ
Tập sau: Tập 14. Họa sĩ tí hon
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên. Ban biên tập bỏ một câu kể lời đồn về chủ một cơ sở có tên thật.


