Trang chủ Ký ức

Ký ức xa quê

Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 14: Họa sĩ tí hon

· 19 phút đọc

FacebookThreadsX
Mẩu bút chì, than và tờ giấy vẽ của đứa trẻ trên bàn gỗ
Mẩu bút chì, than và tờ giấy vẽ của đứa trẻ trên bàn gỗ. Ảnh minh họa.

Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 14/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.

Thời gian tiếp theo, lại đi bằng xe lửa ra Biên Hòa thăm cô thứ sáu, lúc này vẫn có tuyến xe lửa chạy Sài Gòn – Biên Hòa. Nhà tôi ở quê gần đường tàu nhưng đến bây giờ mới thấy được tàu lửa và mới hiểu được tàu lửa chạy trên đường ray như thế nào. Rồi sau đó đi thăm hầu hết những bà con ở quê hương chạy loạn vào Sài Gòn. Đến thăm nhà cô S*, cô có ông chồng Phi Luật Tân đen thui, to lớn dềnh dàng với cái đầu tóc quăn tít nhưng rất hiền, ông ta không biết nói tiếng Việt cứ nhìn tôi cười cười. Đến thăm nhà ông Đắ* rất đông người chạy vào đây làm nghề xích lô…

Ở Sài Gòn lần đầu tiên tôi được ăn kem, ăn bánh mì Ốp la, uống nước Coca cola thỏa mái, Tối đến còn được đi đến rạp xem cải lương và lần đầu tiên biết cái ti vi. Tuyền hình lúc đó hay chiếu những phim cải lương tuồng cổ như là: Phạm Công-Cúc Hoa, Đắc Kỷ-Trụ Vương… Giữa chừng phim cũng hay xen vào bản tin tức như: “Ngày… Ở tại… QLVNCH tiêu diệt được bao nhiêu Cộng quân, thu được bao nhiêu AK-47 v.v…” Bản tin thời sự xen vào để bắt người ta xem giống như quảng cáo bây giờ nhưng thời lượng ít hơn. Đối với suy nghĩ của tôi, thành phố Sài Gòn lúc ấy rất thanh bình, không có chiến tranh, với đêm về người xe tấp nập, muôn ánh đèn màu nhấp nháy. Cuộc sống nơi đô thành sung sướng quá!

Một tháng sau đó chị tôi lại dẫn tôi đi về quê của chị Bảy ở Mỹ Tho. Chị Bảy là người làm chung sở với chị tôi. Đến Châu Thành – Mĩ Tho là quê của chị, phải lội bộ cả cây số từ ngoài đường vào sâu trong ruộng mới đến nhà.. Nhà cửa ở Miền Tây ngộ ghê! Nhà làm bằng lá dừa nước rất đơn giản, nền nhà ẩm thấp, gồ ghề cũng chẳng thèm ban cho bằng phẳng, gà vịt thì nhảy ĩa đầy trên bàn, nước tắm giặt, rữa bát đều dùng nước ao đục sền. Vài chục năm sau này trở lại thấy người dân vẫn sinh sống như thế. Trên đường vào làng còn nhìn thấy những ngôi đình, ngôi nhà lổ chổ vết đạn, đến gần nhà còn thấy một nấm mồ mới chôn của một người lính VNCH, bên trên có một lá cờ 3 sọc to phủ trùm lên cả ngôi mộ. Ồ! Quê của chị chiến tranh cũng át liệt quá! Thời ấy hầu hết những vùng quê nào ở Miền nam cũng đều có nhiều dấu tích của chiến tranh để lại. Chị Bảy cũng hay kể về những trận đánh, xóm làng bị đạn pháo tan hoang, những lần bộ đội về đóng quân ở làng… Ôi! Quê hương của chị cũng đau thương tan tóc chẳng khác gì quê hương của tôi.

Hơn một tháng du ngoạn ở sài Gòn, tôi và mẹ chuẩn bị về quê. Chị gái và các cô của tôi đều khuyên mẹ ở hẳn trong nầy. Ở lại Sài Gòn kiếm một việc gì đó làm vẫn đủ sống nhưng cái chính là tránh được đạn bom. Nhưng như là duyên kiếp bắt tôi và mẹ phải về.

Ngày mai tôi sẽ lên đường về Miền trung gió cát, nơi có quê hương Quảng Ngãi mịt mù thuốc súng. Nhưng tôi vẫn về, về để tiếp tục chứng kiến cảnh máu lửa trên quê hương vào hai năm cuối của cuộc chiến tranh tàn khốc nầy.

Chuyến xe Miền Trung

Chuyến xe Miền Trung từ từ lăn bánh rời bến xe nơi Sài thành đông đúc. Tôi đưa tay vẫy chào những người ở lại, các chị của tôi chạy theo mãi, mẹ tôi ngồi trên xe đôi mắt nhòa lệ, vì có ai biết chắc rằng trong hoàn cảnh chiến tranh nầy thì mình sẽ được gặp lại người thân nữa hay không?.

Ra khỏi nội đô, chiếc xe rồ máy lao nhanh qua những làng xóm, thị trấn xác xơ vì bom đạn, với những người nông dân lam lũ với công việc trên đồng. Xe chạy qua vùng Ninh Thuận nắng gió với những bầy cừu, bầy dê đang ăn trên cánh đồng cỏ cháy khô. Cả một vùng trảng rộng với những đám cây cằn cổi chỉ cao không quá 4m. Thỉnh thoảng mới gặp vài xóm nhà lưa thưa với những dãy chuồng bò, chuồng dê được quây lại bằng các thân cây rừng mà bên trên chẳng hề có mái che nắng che mưa. Đến chiều thì về đến bến xe của thành phố Nha Trang, mọi người xuống xe vào nghỉ đêm tại nhà trọ tập thể. Thời chiến xe không dám chạy ban đêm.

Sáng hôm sau các xe khách lại tiếp tục lên đường. Xe bắt đầu bò lên Đèo Cả thì mọi người ồ lên trước cảnh đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, một bên là vách núi, một bên dưới vực sâu là biển cả mênh mông. Nhiều người sợ hãi nhắm mắt lại không dám nhìn. Xe cứ chạy loanh quanh trên con đường ngoằn ngoèo giữa lưng chừng núi và vực sâu suốt hơn 45 phút mới bắt đầu xổ dốc để ra khỏi đèo. Mọi người, đa số là mới đi Sài Gòn lần đầu nên nhiều phen thót tim vì những khúc cua gấp giò gà trên đỉnh đèo. Đèo Cả thời ấy là nơi thường xảy ra tai nạn lật xe xuống vực, vì khi ấy đường hẹp, không có biển báo giao thông và cũng không có đường cứu nạn như bây giờ. Trước khi lên đèo chỉ thấy có một biển báo duy nhất: “Đoạn đường đèo nguy hiểm, lái xe cẩn thận”.

Khi xe xổ dốc đèo mọi người ồ lên vì thấy một hình ảnh lạ. Một anh du kích mang dép cao su, thắt lưng có nhiều lựu đạn, vai khoát một khẩu súng AK đi trên đường giữa ban ngày. Thời chiến tranh thì ai cũng thấy du kích cả, nhưng đi trên đường Quốc lộ 1 giữa ban ngày thì hơi lạ. Chắc có lẽ chính quyền VNCH không kiểm soát được vùng này. Sau này đọc sử sách mới biết rỏ đây là vùng Vũng Rô, nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, nơi có chuyến tàu không số chở vũ khí chi viện cho chiến trường Miền Nam bị địch phát hiện và bắn cháy, tạo nên cái “sự kiện Vũng Rô”. Xe lại chạy tiếp qua Phú Yên, Bình Định lại thấy rãi rác có nhiều chiếc xe nhà binh bị trúng mìn hay bị bắn cháy nằm ngã nghiêng bên lề đường.

Trên đường từ đèo Cả trở ra có nhiều cảnh núi non, sông biển thật là đẹp. Dãy trường sơn chạy song song với biển, ở giữa là vùng đồng bằng nhỏ hẹp. Một chuyến đi xa đã mở rộng tầm mắt cho tôi nhiều điều kì thú.

Trở lại trường

Trở về quê hương. Hôm sau tôi lại ôm vở đến trường xin học lại. Trường đã mở cửa học lại hơn hai tháng nay mà tôi đi Sài Gòn không học được. Nếu tính từ khi biến cố “Mùa hè đỏ lửa” thì tôi đã nghỉ học nữa năm rồi. Thầy Ph* thấy đã gần hết năm học bèn nói:

– Thôi, sang năm em vào học lại lớp 4 chứ bây giờ em vào thì theo sao kịp?

Tôi phân vân không biết làm sao, có nên ở lại hay không? Bạn bè củ vẫn đang ngồi trong lớp mà bây giờ mình trụt lại thì buồn quá. Suy nghĩ một hồi rồi nói:

– Thầy cho em vào học đi, nếu ở lại thì chắc em nghĩ học thôi

– Em có theo kịp không?

– Em sẽ cố gắng thầy ạ!

Thế là tôi được vào học lại. Lúc này ngôi trường Tiến Đức đã bị pháo đánh sập, chưa kịp xây lại. Lớp học phải học tạm trong nhà thờ Tin Lành. Bữa đầu tiên nghe thầy giảng bài mà như vịt nghe sấm. Những bài toán về phân số, các bài toán đố về chuyển động của xe, tính thời gian, vận tốc.v.v… Tôi đều mù tịt. Tháng đầu tiên tôi được xếp hạng vị thứ 64/65. Sau đó nhờ các bạn bè trong lớp chỉ dẫn thêm cộng với sự cố gắng của bản thân mà tôi vẫn được lên lớp. Đến cuối năm tiểu học tôi được xếp hạng thứ 8/61 và thi đậu vào trường trung học công lập.

Sự học ngày ấy nó đơn giản và nhẹ nhàng. Sách giáo khoa thì chỉ có mấy quyển gồm: Toán, Việt văn, Sử địa và Khoa học thường thức, chứ không phải cả một ghánh sách như bây giờ. Chẳng hạn như lớp 1 hiện nay phải có tất cả 16 quyển sách các loại, chưa kể các sách tham khảo nâng cao. Lớp 1 là mới bắt đầu tập đánh vần, viết chữ và làm quen với các con số, thế thì các em làm sao có khái niệm về các từ: Tự nhiên, Xã hội, Khoa học, Đạo đức… Thế mà vẫn có sách giáo khoa: Tự nhiên – Xã hội, sách GK đạo đức lớp 1. Thực chất những vấn đề đó sẽ được thông qua các bài giảng về các danh nhân, bài giảng về cảnh đẹp của quê hương đất nước trong sách Tập đọc, sách Việt văn là đủ rồi, chẳng cần phải in ra nhiều sách như thế.

Ngày ấy đi học, tôi cũng như các bạn đều phải tự lo. Không có thước thì chẻ tre để làm thước, làm thủ công vót đôi đủa cũng phải tự làm, đến tết Trung thu cũng tự làm lồng đèn, thiếu hồ dán phải quấy bột mì… Dán lồng đèn ngôi sao hay bánh ú đem phơi nắng cho giấy màu căng lên, lỡ để lâu ngoài nắng nó nổ cái “bụp” rồi lại phải gở ra dán lại. Nhờ thế mà cũng rèn luyện cho mình có một số kỉ năng trong cuộc sống, chứ cha mẹ chẳng hề làm thay hay thúc ép phải đạt danh hiệu này nọ, miễn cuối năm lên lớp là được. Còn bây giờ thì thấy đa số các phụ huynh, ai cũng ép con em mình phải vào Đại học, ai cũng muốn con mình trở thành thần đồng, nên tụi nhỏ bức xô là phải.

Một hôm trong giờ ra chơi, tôi thấy tụi bạn bu quanh xem cái gì đó ở gần bờ rào. Tôi chạy đến thì thấy một đứa cầm lên một cái mũ cối bộ đội đã móp méo, chúng nó cố gắng đọc trên vành vải bao quanh mũ cái dòng chữ đã mờ nhạt và sờn rách đi phần nhiều nhưng cuối cùng cũng dịch ra là:

– Hy sinh vì Tổ quốc – Quyết giải phóng Mộ Đức!

Đúng là cái câu khẩu hiệu lúc đó vẫn còn nhan nhản trên các tường nhà ở khu vực Thạch Trụ này được các anh bộ đội viết bằng gạch và bằng than. Chiếc mũ này chắc là của một anh bộ đội nào đó đã chết trong mùa hè đỏ lửa vừa qua. Nhìn chiếc mũ móp méo mà tôi cứ tưởng tượng ra một người lính ở Miền Bắc hiền từ mà tôi đã gặp, bây giờ đã hy sinh, thân thể bị bom đạn vùi lấp ở đâu gần đây. Thương các anh quá!

Họa sĩ tí hon

Bởi vậy lúc này tôi hay vẽ cảnh chiến tranh cho các bạn cùng lớp xem. Có năng khiếu vẽ đẹp nhưng vì vóc dáng nhỏ con nên các bạn đặt cho cái tên là: “Họa sĩ Tí hon”

Một hôm vào giờ giáo lý, cô Lu** đang giảng về sự kiện chúa Jesu bị đóng đinh lên thập tự giá. Tôi ngồi ở dưới không nghe giảng bài mà chăm chú vẽ cảnh chiến tranh. Vẽ cảnh đạn pháo nổ bèn cách đưa ngòi viết Pilot vào gần trang giấy rồi thổi mạnh. Cô Lu** thấy tôi không nghe giảng mà lo phì phò thổi nhiều lần như thế bèn đi xuống chổ tôi và nói:

– Ngồi làm việc riêng gì thế? Đưa vở đây cho tôi kiểm tra xem nào!

Tôi tái mặt, vội gấp nhanh quyển vở lại, vì tôi đã vẽ vào trong quyển vở học Giáo lý cảnh bộ đội đang chiến đấu ở Thạch Trụ với câu khẩu hiệu: “Hy sinh vì Tổ quốc – Quyết giải phóng Mộ Đức”. Bây giờ làm sao đây? Cô Lu** là chủ nhà thờ Tin Lành do Mĩ bảo trợ. Để cho cô thấy cái nầy thì chết. Tôi vẫn đặt tay lên quyển vở giữ chặt, trống ngực đập thình thình.

Cô Lu** giật quyển vở lên giở ra xem, thấy hình vẽ cô nhìn rất lâu rồi đưa tay xé toẹt liền mấy tờ có hình vò viên lại và ném xuống đất rồi nói:

– Ngồi trong lớp không chịu ghi bài nghe giảng mà vẽ bậy lung tung

– Vở học không chịu giữ sạch sẽ mà như tờ giấy lộn thế này? Hôm sau về thay vở mới nghe chưa?

Tôi chỉ biết líu ríu “Dạ, vâng”. May quá! Cô không nói gì về những hình vẽ ấy.

Chính vì vẽ đẹp mà tôi lại gặp rắc rối hoài. Năm sau học lớp 5, Cô Du** cho về nhà vẽ bản đồ các tỉnh bắc phần (từ Ninh Bình trở ra) theo hình vẽ trong sách Địa lí. Tôi vẽ công phu bằng cách chia ô bằng bút chì, vẽ xong thì xóa ô đi, nên khá giống. Phần bờ biển của vịnh Bắc bộ thì lấy viết mực xanh tô đậm từng đoạn ngắn rồi đưa tay Xẹt ngang ra hướng biển tạo ranh giới của đất liền và vùng biển. Hình vẽ chỉ một màu mực, không có thêm một màu sơn nào khác, nhưng khá đẹp.

Hôm sau nộp lên cho cô chấm điểm. Khi phát bài xuống, thấy các bạn đa số trên điểm trung bình mà tôi chỉ có 4 điểm. Xem bản đồ của thằng Gầ* là đứa ngồi bên cạnh thì ôi thôi! Bản đồ của nó vẽ như mèo cào, xấu lắm, không đúng tỉ lệ gì cả. Thế mà vẫn được 5 điểm. Tức mình quá, tôi cầm hai hình vẽ lên kiện.

– Thưa cô! Sao của em đây thế này mà có 4 điểm, còn hình này mà lại được 5?

– Ồ hay! Cho ai mấy điểm là quyền của tôi chứ sao em lại kiện thưa?

Vì khi ấy còn nhỏ thường sợ thầy cô nên tôi chẳng biết nói thêm gì, bèn đi về chổ ngồi mà trong lòng rất ấm ức, không hiểu được vì lí do gì mà cô lại áp chế mình như thế?. Vài năm sau này tôi mới hiểu ra lí do là khi ấy cô cứ nghĩ rằng bản đồ đó là do tôi nhờ người lớn vẽ. Cô không tin rằng tôi có thể vẽ được như thế.

Một hôm trong giờ ra chơi tôi lên bảng lấy phấn vẽ một cô giáo mặc áo dài và thầy giáo đeo kính nắm tay nhau dưới sự cổ vũ của bạn bè trong lớp. Vẽ xong thì có mấy đứa nữa lên vẽ thêm râu ria vào, còn tôi thì chạy ra sân sau để chơi với tụi khác. Vui chơi say mê đến khi trống vào lớp mà chẳng hay, sau đó chạy ùa vào lớp thì cô Du** cũng vừa bước vào. Nhìn lên bảng thì ôi thôi! Hình vẽ vẫn còn đó nhưng bên dưới có đứa nào điền thêm một câu:

– Cô Du** yêu Thầy Ph**

Đúng là xem hình ấy ai cũng biết đó là Cô Du** và Thầy Ph**, vì trong trường chỉ có một cô giáo trẻ là cô Du** dạy lớp 5, còn chỉ có một thầy đeo kính là thầy Ph** dạy lớp 4. Cô Du** mặt đỏ bừng khi nhìn hình vẽ, rồi cô hỏi:

– Ai vẽ bức hình này?

Cả lớp im thin thít. Cô bắt lớp trưởng phải chỉ ra người vẽ, lớp trưởng buộc phải nói tên tôi. Tôi bèn nói:

– Thưa cô! Đúng là em vẽ nhưng chữ viết không phải của em

Cô lại tiếp tục điều tra các bạn gái phải chỉ ra xem ai viết. Hình vẽ thì ai cũng biết là của tôi vì trong lớp không ai vẽ được, còn chữ viết thì khi ấy các bạn bu quanh nên chỉ một vài đứa biết thủ phạm nhưng tụi nó không nói. Cuối cùng chỉ một mình tôi lãnh đủ một trận dũa te tua của cô giáo chủ nhiệm. Thời ấy học sinh sợ thầy cô lắm. Nếu nghịch ngợm hay không thuộc bài là bị đánh đòn hoặc bắt quì cả tiếng, mà có khi quì trên xơ mít có gai hoặc quì trên trái dương (trái của cây phi lao) mới ê ẩm chứ.

Trò chơi tuổi thơ

Khi ấy đi học thì thường đem theo trổng để giờ ra chơi là đánh trổng. Trổng là một đoạn tre bằng ngón chân cái dài cở 40cm, có một cái trổng con nhỏ hơn, dài khoảng 15cm. Khi chơi thì cầm cây trổng dũi xuống đất cho có rãnh xiên. Đặt cây trổng con vào đó cho một đầu hích lên trên, cầm cây trổng gõ xuống đầu cây trổng con cho bung lên rồi đưa cây trổng vào nẩy nhẹ cho trổng con văng lên xuống nhiều lần nhưng không được rơi xuống đất. Cuối cùng quất một cái thật mạnh cho trổng con bay xa hết cở. Ai quất xa ít nhất hay bị rớt trổng con là chịu bị hầm. Người bị hầm phải đi lượm trổng con do mấy người kia quất để đem về cho người kế tiếp quất. Khi nào ai bị quất hụt trổng con thì phải vào thay cho người bị hầm.

Ngoài trò đánh trổng thì chơi bắn bi hầm hoặc chia phe ra để chơi đá lộn. Đá lộn là trò chơi rất nguy hiểm, có đứa bị đá trúng chổ nghiệt nằm bất tỉnh một hồi luôn.

Ở trường thì chơi thế, còn về nhà thì thường chơi tố đất lộn. Chia phe ra và lượm những cục đất cày bằng ngón chân cái để tố nhau. Có khi cũng bị u đầu chảy máu vì những cục đất quá cứng. Thời gian này cũng tương đối bình yên. Những đêm tối sáng trăng lũ trẻ chúng tôi vẫn tụ tập chơi u tù hoặc đá lộn thỏa thê. Ban ngày thì đi bắt tổ chim, tìm chim con về nuôi, thường thì bắt chim dồng dộc hay làm tổ trên ngọn tre. Chim dồng dộc lớn hơn chim sẻ một tí, lông lốm đốm vàng, loại nầy nuôi rất khôn. Bây giờ sao không thấy loại chim này nữa.

Chơi chim đã rồi chơi cá. Chạy ra đồng thấy chổ nào có bọt trắng cở vài phân thì đó là tổ cá lia thia, be bờ quay tròn chỉ chừa một cửa vào, vài giờ sau quay lại đắp trổ rồi tát nước là sẽ bắt được cá. Cá lia thia có vằn rất đẹp, cho 2 con vào một chai để chúng đá với nhau xem thích thú lắm. Còn những cái thú khác dưới đồng nữa là đi cắm câu, thả lờ, và đi bắt cá xốc. Ruộng chuẩn bị cấy lúa thì phải cày, bừa và cuối cùng là xốc. Xốc là dùng trâu bò kéo cái bừa xốc để trang cho mặt ruộng bằng phẳng, lúc đó nước trong ruộng chỉ còn lấp xấp. Một người đi xốc là cả 9-10 người đi theo bắt cá, sau cái bừa xốc cá nổi lên, mọi người chạy lại chụp vui lắm. Cầm một cái gàu thủng đít để bắt cá xốc là hữu hiệu nhất, vì khi nước tràn trở lại thì cá đã ở trong gàu không chạy ra được. Khi ấy cá nhiều lắm. Những con cá trê to vàng chóe, đem về khứa ra rồi nướng trên bếp lửa cho chín và dằm vào nước mắm tỏi là món thức ăn tuyệt ngon mà hiện nay rất khó kiếm vì bây giờ chỉ toàn là cá trê nuôi, ăn thức ăn cám tổng hợp nên không thơm ngon như cá tự nhiên.

Những trò chơi dân dã hay những thú vui đồng quê của tôi ngày xưa chỉ còn trong kỉ niệm. Bây giờ muốn cho con cái mình hưởng thụ những điều ấy để phong phú thêm tâm hồn, để chúng có thêm tình cảm gắn bó với quê hương nhưng không thể thực hiện được. Vì môi trường và hoàn cảnh sống đã đổi thay.

Đọc tiếp

Tập trước: Tập 13. Xuân 1973 và chuyến đi Sài Gòn đầu tiên
Tập sau: Tập 15. Chiếc võng dưới nấm mộ
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa

Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.

Chia sẻFacebookThreadsX

Cùng chuyên mục