Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 15: Chiếc võng dưới nấm mộ
· 18 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 15/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Chiếc võng dưới nấm mộ
Bây giờ đã là mùa hè năm 1973. Hằng ngày buổi sáng đến trường, buổi chiều tôi vẫn thường chạy về quê củ thôn Thiệp Sơn để tham gia trồng củ, tỉa đậu với nhà ông nội. Mùa hè ở Miền Trung với cái nắng gay gắt từ ngay những ngày sau tết. Lúc này lính sư đoàn 2 đã chiếm đóng lại cứ điểm trên đồi Chóp Vung. Từng chiếc xe GMC chở lính, chở súng đạn, vật liệu bê tông, sắt thép, kẽm gai… Chạy lên xuống đường Cái Mới liên tục làm tung lên những đám bụi mịt mù
Lại nói về nấm mồ của người bộ đội Bắc Việt chết trên mép đường Cái Mới ở thôn Vùng 4, khi quân ngụy tái chiếm tái chiếm xã Phổ Thuận trước Hiệp định Pari. Vì người dân chạy loạn gần 10 ngày sau mới trở về nên xác chết đã phân rã bốc mùi hôi thối lắm, nên họ đành cuốc đất đắp thẳng lên tạo thành một nấm mồ trên mép đường. Xe nhà binh chạy qua lại làm cho nấm mồ sệ dần. Lúc đầu thì thấy ló ra những ống xương tay, xương chân, rồi tiếp đến là cái sọ bung lên. Từ mùa xuân cho tới mùa thu, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu rơi nhiều và ngày càng nặng hạt, đất trên mộ đã trôi dần để lộ ra những mãng tóc đen dính với thịt xương dán xuống mặt đường, thấy cả những chiếc răng trơ ra. Một chiếc võng bung lên, lúc đầu là một cục, sau đó vết bánh xe nhà binh cán qua cán lại bung ra thành một miếng vải nhăn nhúm, chiếc võng cũng thấm với máu thịt người chết tạo thành màu nâu sẩm loang lổ. Ai đi ngang qua cũng dừng lại một tí để xem và thương xót cho một người lính Miền Bắc đã hy sinh vì Miền Nam ruột thịt.
Vài hôm sau đi qua, tôi không còn thấy chiếc võng nữa nhưng cái sọ và vài khúc xương vẫn còn văng vào bên lề. Đặc biệt là vài mảng tóc vẫn còn dính sát dưới mặt đường, mặc dù nấm mồ bây giờ gần như xóa sạch hoàn toàn bởi vết xe và những cơn mưa lớn. Chổ này là trảng trống, nhà dân cách vài trăm mét, nên rồi chẳng có ai quan tâm gom góp chôn lại một nấm mồ khác.
Khi tôi đang viết những dòng nầy thì ngẫu nhiên nghe trong tivi, đài VTV2 trong mục “Nhắn tìm đồng đội” đọc họ tên của những người lính đã hy sinh ở Miền Nam, biết đâu trong số ấy có cả tên của anh. Và tôi chợt nhớ tới một đoạn trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.
“Rãi rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã Gầm lên khúc độc hành”
Người lính Tây Tiến năm xưa nằm xuống nơi biên giới Việt Lào heo hút vẫn còn có nấm mồ. Còn anh nằm đây mồ chẳng có mà thịt xương cũng tan nát mỗi nơi. Rồi mẹ anh hằng ngày vẫn nhắn tin trên VTV2 để tìm phần mộ, nhưng còn mộ đâu mà tìm và những dòng nhắn đó không biết đến bao giờ thì người ta sẽ ngưng. Ôi, chiến tranh tàn khốc quá!
Chiếc võng trong nhà ông Cố
Một hôm về nhà nội chơi, tôi ghé vào nhà ông Cố Tư. Ông Cố Tư là chú của ông nội tôi, bà mất sớm, ông không có con vẫn ở vậy một mình. Ngày lính Mĩ đến bắt cả xóm lên trực thăng Sâu Róm CH-47 để chở vào Gò Hội, ông sợ quá bèn cách đái đầy ra nhà rồi lấy lá khoai lang vò với lọ nồi bôi đầy lên mặt giả bộ đau nặng nằm đắp mền rên hì hì. Lính Mĩ vào nhà thấy vậy và nghe hôi thối, tưởng thật và sợ đưa lên máy bay sẽ lây bệnh nên ông không bị bắt đi. Những năm tản cư ông chạy theo mọi người ra Thạch Trụ làm nghề ghánh nước thuê sống qua ngày. Sau cái Mùa hè đỏ lửa năm 1972 ông cũng trở về quê và dựng một căn chòi phía trước nhà ông nội của tôi.
Tôi vào nhà thì ông đang lọ mọ nấu cơm dưới bếp. Nhà ông hôm nay sao khác khác, chợt nhìn thấy chiếc võng nhăn nheo màu nâu loang lổ. Nghĩ đến chiếc võng của người bộ đội chết ở thôn Vùng Tư tôi chợt giật mình lạnh toát cả sống lưng và chạy xuống bếp hỏi.
– Ông Cố! Chiếc võng ở đâu mà ông có trong nhà thế?
– Võng của tao mua ngày xưa ở Mộ Đức đấy mà
– Sao lâu nay con không thấy?
– Lâu nay nhà chật, không có chổ cột võng nên cất trong xách, mấy hôm nay mới vừa dọn dẹp và chống
Thêm trụ bên ngoài mới dám cột võng đó.
Tôi không tin lời ông nói, nhưng không dám hỏi han gì thêm. Nếu võng của ông mua thì không thể nhàu nát loan lổ sậm màu như vậy. Mà lâu nay ngoài chợ cũng chẳng thấy bán loại võng như thế. Mấy hôm sau tôi trở lại nhà ông Cố Tư thì gặp các anh Dưỡ**, anh Chá** cũng ở đó, còn ông Cố Tư đi xới củ phía sau vườn. Tôi hỏi về chiếc võng ấy thì được biết đó chính là chiếc võng của người bộ đội chết ở Vùng Tư. Ông đi qua thấy chiếc võng vẫn còn lành lặn và có đủ cả dây dù nên tiếc quá bèn lấy về giặt xà phòng thật sạch để nằm. Dù đã giặt nhiều lần nhưng máu thịt đã thấm lâu vào vải nên vẫn thấy còn loang lỗ từng vết nâu sậm.
Lúc đầu tôi chẳng hề dám đụng tay vào chiếc võng, thời gian sau thấy các anh tôi vào nhà nằm hẳn trong võng, tôi cũng đụng chạm lần và cũng nằm vào luôn. Chiếc võng tuy loang lỗ nhưng còn khá chắc, vải võng khá dày, dây mắc võng hai đầu vẫn còn nguyên. Đó là chiếc võng Trung Quốc dùng trang bị cho bộ đội thời ấy. Sau đó tôi có hỏi ông Cố Tư.
– Ông Cố, ông nằm một mình trên võng ban đêm ông không sợ sao?
– Có gì đâu mà sợ, tao đã xin lại của người chết rồi
– Có khi nào ông thấy ông bộ đội ấy không?
– Chưa thấy lần nào cả
Thật tôi nghiệp ông cố, Cả đời nghèo khổ chưa bao giờ đủ tiền mua cái võng để nằm, đành phải nằm chung với người chết.
Bắt dân dỡ bờ rào
Bình yên một thời gian rồi súng lại nổ. Nhiều đêm nghe súng nổ ran ở phía xa xa, kèm theo là những ánh chớp sáng lòa ở một góc chân trời. Một buổi sáng sớm nhìn lên QL1 tôi thấy một đống lù lù gồm tre gai và kẽm gai bùng nhùng, Phía bên kia đường ở xóm 21 một lá cờ mặt trận được cắm trên một ngọn cây cao đang bay phần phật in rỏ trên nền trời. Thôi rồi, mấy ông Du kích lại về rào đường và chuẩn bị đánh nhau đây. Lính Nghĩa quân trong đồn thì chẳng dám ra mở đường và gọi lính Địa phương quân từ trong quận ra.
Mọi người cũng chui vào hầm như mọi khi. Vài loạt đạn nhọn và cối cá nhân nổ đì đùng trên QL thì lính cũng ra đến nơi, vì Du kích chỉ rào đường cản xe cơ giới chứ không ở lại tham chiến. Mọi người dưới hầm cũng chui lên và một lúc sau thì có vài tên lính đi xuống. Một tên nói:
– Mấy người chứa chấp Cộng sản đêm qua về đây để rào đường thì bây giờ phải lên dỡ
– Mấy ổng rào hồi khuya có ai biết đâu, sáng ra mới thấy – Mọi người lao nhao phản đối
Một tên lính dí súng vào người mẹ tôi và nói:
– Bà kia! Lên đường cái kéo bờ rào ra dọn đường!
– Thôi chết! Lỡ có mìn trong đó nó nổ thì sao?
– Đi ngay! Các bà để Cộng sản rào đường thì phải dọn
Tôi sợ quá chạy lại kéo lấy tay mẹ và nói:
– Mẹ ơi, đừng đi! Đi là chết ngay
Mẹ tôi nói:
– Tôi không đi đó! Lên đó chết thì mấy ông có chịu không?
– Các cậu ơi! Sao lại bắt dân vào chổ chết như thế? Đã có người chết vì kéo vi rào đường đó. Các ông làm sao thì làm chứ tụi tôi không đi đâu hết! – Ông tôi cũng nói xen vào.
Mọi người lao nhao phản đối quyết liệt, tên lính bèn bỏ đi đến các nhà khác. Đi đâu người dân cũng phản đối khi hắn bắt họ lên dỡ bờ rào. Cuối cùng chúng đành phải cột dây thật dài vào những cây tre, vào đoạn kẽm gai trên bờ rào và đứng từ xa để kéo. May thay, không có mìn hay lựu đạn cài trong ấy.
Những năm trước, hằng đêm Du kích vẫn về và tổ chức chặt tre, bỏ rơm rạ ngang qua QL và cài mìn trong ấy để rào đường chặn xe cơ giới của địch. Bà Hồ** là một nạn nhân khi bị bắt đi phá dỡ hàng rào.
Hôm ấy có rào đường. Ông Hồ** thấy bờ rào trên QL ngay trước nhà mình liền vội đánh trâu ra đồng để lánh đi, thì gặp tụi lính ngoài cầu Vinh Hiển đi vào và kêu lại, ông đành phải quay trở vô, đến gần nhà thì chúng bắt ông vào kéo bờ rào, ông đã kéo hai cây tre và không chịu kéo nữa. Đang giằng co với tụi lính thì bà Hồ** chạy ra. Vì ông là đàn ông nên bà sợ chúng đánh đập bèn nói.
– Ông nhà tui đang bị bệnh, xin các cậu cho ổng nghỉ, còn gì ngoài đó thì để tôi dọn cho.
Nói rồi bà bước ra đường nắm lọn rạ kéo đi. Một tiếng nổ “Ầm!” chát chúa vang lên, bà Hồ** bật ngữa ra đường, máu me đầy mình, tụi lính hoảng loạn nằm rạp xuống ven lề đường. Sau một hồi không thấy động tĩnh gì, mọi người mới chạy ra và đưa bà Hồ** đi nhà thương Quảng Ngãi. Không biết là loại chất nổ gì nhưng bận đó bà Hồ** nằm viện 6 tháng, cũng may là còn giữ được mạng sống đến ngày hôm nay và hiện giờ chân vẫn còn đi cà nhắc. Thời gian đó cũng có vài người chết vì phải đi kéo bờ rào, đến năm 1973 trở về sau thì Du kích vẫn rào đường liên tục nhưng sợ người dân lãnh nạn nên không có cài chất nổ trong ấy nữa.
Lấn đất giành dân
Sau Hiệp định Pari thì có sự kiện lấn đất giành dân của hai bên. Bên Giải phóng thì gọi là giữ đất giữ dân, bên ngụy thì ra sức chiếm đất và giành dân. Những cuộc hành quân liên tiếp bằng xe tăng M113 của lính ngụy đi về các xã Phổ An, Phổ Phong là hai xã vùng biển và vùng núi tiếp giáp với xã Phổ Thuận là phải hứng chịu nhiều nhất các đợt càn quét này. Từng đoàn người ở các nơi ấy lũ lượt bồng bế nhau chạy tản cư lên các vùng ven QL1 để tránh bom pháo. Còn người dân Phổ Thuận quê tôi thì cũng có nhiều người méo mặt vì ruộng lúa bị xe bọc thép quần nát, nhiều khi một đám ruộng mà bị 3 đường xe tăng dẫm nát. Có lúc khi hành quân trở về mà chúng vẫn chạy nhiều đường khác nhau, kề nhau làm cho nát bét cả đồng lúa đang sắp đến kì thu hoạch. Hồi ấy có loại xe bọc thép gì mà có cái thùng phía sau rất lớn, Khi đi càn trở về thì thấy chở trên ấy nào là lúa gạo, tôn rạ, giường tủ, heo gà… Các vật dụng mà chúng cướp được của người dân ở vùng ấy, chúng tôi thường gọi là xe tăng chở lúa.
Nghe mọi người nói là lính ngụy thực hiện chính sách 3 trắng (3 không) ở các vùng chúng càn quét. Đó là:
Trắng dân, trắng cây cối và trắng Cộng sản
Những lần càn quét như thế, từ trên đồng nhìn xuống xã Phổ An thấy nhà cửa bị đốt cháy khói bay lên nghi ngút. Làm như thế để chúng tách dân ra khỏi Cách mạng, Cách mạng sẽ không có người tiếp tế và chúng sẽ dễ dàng bắn pháo xuống làng mỗi khi cần thiết.
Một thời gian sau có mấy người quê ở Phổ An bồng bế đến ở với bà con tại xóm tản cư sát nhà tôi. Họ nói rằng bị mấy anh Du kích khi đêm đến chặt cột nhà ở khu dồn Trà Câu buộc họ phải về làng
– Du Kích mà sao hành động như lính ngụy thế? – Một số người hỏi
– Họ bảo phải về quê, cách xa đồn địch để Cách mạng bắn cối vào đồn khỏi vạ lây – Người kia nói.
– Về quê chúng xuống đốt nhà, đánh đập thì các ông ấy có bảo vệ được không? – Một người khác nói.
Có phải là lệnh từ trên của Cách mạng hay không thì tôi không biết. Nhưng ở xóm tản cư sát nhà tôi cũng toàn là dân Phổ An chạy lên, tôi không hề thấy có chuyện đó. Có lẽ đó là do ham thành tích của một số Du kích trong chủ trương vận động bà con về làng của cấp trên. Vận động không được thì bèn quay ra dùng vũ lực. Mà chạy về làng thì bị lính ngụy càn quét đốt phá nên một số người ấy mới chạy đến chổ xóm tản cư nầy.
Người dân nằm kẹt giữa hai làn đạn thật khổ sở vô cùng.
Một vụ cướp xe Jeep li kì
Sáng hôm ấy Tôi đang thả trâu ở Gò Da thì nghe một loạt súng nổ ở hướng An Sở. Chuyện súng nổ thì như cơm bữa nên cũng chẳng quan tâm làm gì. Một lúc sau thì nghe hàng loạt pháo 105 li từ Gò Hội bắn ra bay về hướng xã Phổ Phong. Có chuyện gì thế nhỉ? Mọi hôm thường không có bắn pháo vào giờ gần trưa như thế này. Tối hôm ấy về nhà nghe mấy người bàn tán râm ran về việc du kích xã Phổ Thuận đã đóng giả lính ngụy và cướp thành công chiếc xe Jeep, mà nhân vật chính trong vụ này là anh Bì**, lúc đó là lính thuộc trung đoàn 1 – sư đoàn 2 ngụy
Sự việc cướp xe Jeep hồi đó tôi nghe người dân, du kích rồi cả lính nghĩa quân đến nhà tôi cũng có kể lại với nhiều chi tiết không giống nhau. Mãi đến hôm nay khi được tiếp xúc với nhân vật chính của câu chuyện này tôi mới rõ từng chi tiết. Khi đến “phỏng vấn” tôi cũng nói rõ mục đích của tôi là viết lại hồi kí “Tuổi thơ máu lửa” của bản thân tôi đối với những sự kiện mà mình có ít nhiều chứng kiến, chứ tôi không phải là nhà báo viết bài cho một tờ báo nào, hoặc viết để báo cáo thành tích cho anh hay cho xã Phổ Thuận. Do đó tôi mong anh hãy kể hết sự thật, không nên tô hồng lên. Anh Bì** vui vẻ và đồng ý với quan điểm đó.
Anh Bì** là cơ sở của Ban an ninh xã Phổ Thuận từ năm 1967, năm 1969 thoát li lên Ban an ninh xã và được bố trí hoạt động ở phía trước, tức là có nhiệm vụ diệt ác trừ gian. Năm 1971 được tổ chức phân công nhiệm vụ hoạt động ở thị trấn Đức Phổ, chẳng may hôm ấy bị địch chặn lại khám xét và bắt tại trận với một khẩu col45 trong người. Địch tra hỏi về tổ chức nhưng anh chỉ khai là thanh niên khi ngẫu nhiên lượm được khẩu súng ngoài đồng thì thích mang chơi chứ chẳng hề có ý bắn ai. Đồng thời mẹ anh đi vận động lo lót vàng bạc nên anh chỉ bị bắt bỏ tù một thời gian. Sau đó được sự đồng ý của tổ chức, mẹ anh lại lo lót để anh được đưa ra đăng kí nhập ngũ vào trung đoàn 2, sư đoàn 1 ngụy, sau đó xin chuyển về trung đoàn 1 của sư đoàn 2 là đơn vị đứng chân ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi để có điều kiện hoạt động cho địa phương. Thời gian tại ngũ anh đăng kí đi học lái xe và khi đó anh vẫn thường về quê Phổ Thuận ghé vào nhà cô T. là cơ sở, dưới danh nghĩa là bồ của anh. Cô T. sẽ chuyển các tin tức quan trọng mà anh cung cấp cho tổ chức. Có khi anh cũng ở lại đêm để họp với Ban an ninh xã.
Thời gian này tổ chức giao cho anh nhiệm vụ là lên kế hoạch làm sao diệt được địch để gây tiếng vang. Sau nhiều tháng nghiên cứu nhưng vẫn chưa thực hiện được. Khi thì địch đi quá đông, khi thì xin đi nhờ xe nhưng chúng không dừng xe lại. Sau khi nghiên cứu kĩ cách thức đi lại bằng xe Jeep của tụi sĩ quan ngụy ở thị xã Quảng Ngãi, anh báo với tổ chức là ngày mai phải quyết tâm lấy được xe.
Hôm ấy là ngày 10 – 12 – 1973. Năm người du kích xã Phổ Thuận đóng vai lính ngụy nằm chờ sẳn gần đường 5 (QL24) cách ngã tư Thạch Trụ 1km. Anh Bì** thì đóng lon thiếu úy ngồi sẳn ở một quán café ở thị xã Quảng Ngãi để đón lõng bắt xe. Khi ấy có một chiếc xe Jeep chở hai tên lính và một đại úy quân y nhưng không có vũ khí, cũng vào quán uống cafe. Khi ra xe anh Bì** hỏi tên đại úy đi về đâu, hắn bảo đi về sân bay Quảng Ngãi, anh liền xin quá dang đi và lên xe ngồi ở ghế sau. Đi được một đoạn, anh rút 2 súng, hai tay dí vào lưng tên lái xe và tên Đại úy rồi bảo.
– Cho xe quay về Đức phổ! Ngồi im, không được quay đầu lại!
– Không tuân lệnh tôi sẽ nổ súng!
Tên đại úy bất ngờ há hốc mồm ngồi yên ở ghế trước run cập cập, tên lái xe thì mặt không còn chút máu, đành phải ríu ga cho xe chậm lại và quay xe về hướng nam. Ra khỏi nội thị anh Bì** thúc cho xe đi nhanh, cầm súng và luôn quan sát động tĩnh của 3 tên địch, đồng thời hăm dọa nếu hắn có hành động gì thì sẽ bị bắn ngay lập tức. Xe chạy qua nhiều đồn bót, trạm gác nhưng thấy trên xe có đại úy và thiếu úy nên chẳng bị dò xét gì.
Xe chạy đến ngã tư Thạch Trụ thì buộc phải quay lên đường 5. Đến địa điểm hẹn trước thì anh Bì** ra lệnh dừng lại. Các anh du kích chạy ra, bắt 3 tên ngụy xuống và 5 người du kích đã đóng giả lên xe chạy tiếp vào thị trấn Đức phổ. Trên xe lúc nầy có anh Nguyễn văn Tròn (được tuyên dương AHLLVT năm 1978) đóng vai đại úy, anh Bì** lên vị ví lái xe, mọi người trang bị súng ống đầy đủ.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 14. Họa sĩ tí hon
Tập sau: Tập 16. Những người lính đồn Quán Vịt
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


