Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 16: Những người lính đồn Quán Vịt
· 20 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 16/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Xe chạy vào tới thị trấn thì hôm đó ở chi khu lính tráng khá đông, thấy hành động lúc này không thể thoát được, các anh bèn quay ra. Đến Trà Câu, các anh tiêu diệt tên Di** là cuộc trưởng cảnh sát Trà Câu, ra đến An Sở tiêu diệt tiếp ông Cô** là phó đại diện xã Phổ Long (Phổ Thuận). Lúc đó tụi lính ở đồn An Sở mới phát hiện và nổ súng chỉ thiên nhiều loạt, khi ấy xe đã chạy đến cầu Nước mặn. Tên lính gác cầu ra hiệu xe dừng lại, hắn nói:
– Có chuyện gì mà súng nổ báo động trong kia, mấy anh cho xem giấy tờ
– ĐM. Mày không thấy xe sĩ quan đi công vụ sao mà còn dám chặn lại?
Nói rồi anh Bì** chồm ra khỏi xe quờ tay tát tên lính gác, tên lính né tránh và tái mặt khi thấy trên xe có cả đại úy và nhiều lính tráng rằn ri với súng ống lăm lăm nên chẳng dám ho he. Xe chạy tiếp ra nghã tư Thạch trụ thì gặp hai tên lính sư đoàn 2 đóng tiền đồn ở cây số 2 đang đi chợ về xin quá giang. Các anh vẫn ngừng lại và cho lên xe, đến Tiền đồn thì dừng lại và cho xuống. Một tên nói:
– Các anh quay xuống đi, trên đó có cộng sản đấy!
– Đi công vụ mà!
Chiếc xe chạy tiếp về hướng tây trước sự ngơ ngác của hai tên lính nuôi quân. Chạy lên đến cầu Chùa cháy (cây số 4) thì pháo địch nã theo tấp nập hai bên đường 5. Đến đây đã là vùng giải phóng, xe chạy tiếp lên cây số 9 thì rẽ vào rừng. Mọi người đều an toàn. Chiếc xe sau đó được tháo rời ra và chuyển theo đường Trường sơn đi ra bắc rồi tổ chức triển lãm ở Nghệ An là tỉnh kết nghĩa với Quảng Ngãi khi ấy.
Trong chiến công rực rỡ ấy có vai trò chính yếu là của anh Bì**. Với lòng dũng cảm sẳn sàng hy sinh khi có tình huống xấu nhất xảy ra là tên lái xe chạy thẳng vào đồn lính. Nhưng mãi đến hôm nay anh vẫn còn canh cánh trong lòng một nỗi buồn là ta đã bắn lầm một cán bộ nội tuyến.
Ông Cô** bị bắn hôm ấy là cơ sở nội tuyến của ta cài vào lòng địch làm chức đại diện phó xã Phổ Long. Để giữ bí mật chuyện nầy, gia đình ông Cô** cũng không được biết, chỉ có ông Gặ* lúc đó là bí thư đảng ủy xã Phổ Thuận là người giao nhiệm vụ cho ông Cô** và vài cán bộ chủ chốt của huyện Đức Phổ biết. Đội diệt ác hôm ấy không một ai được biết. Hôm ấy ông Cô** đi lên thôn Kim Giao gặp gỡ với ông Gặ*, khi trở về đến An Sở thì ngẫu nhiên gặp chiếc xe Jeep ấy rồi bị bắn chết. Có lẽ trước khi chết ông cũng không hiểu được rằng mình bị bắn.
Còn một điều đau xót nữa là đến mãi bây giờ do sự mâu thuẩn sao đó giữa những nhân chứng mà ông Cô** vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ. Nhưng một thực tế đã chứng minh là trong quyết định khen tặng huy chương cho anh Bì** (Nguy** Tha** B.) lúc đó chỉ ghi là tiêu diệt: 01 đại úy bác sĩ, 01 cuộc trưởng cảnh sát và 02 lính ngụy mà không hề có ghi tên ông Cô**. Thế mà giờ này vẫn chưa trả lại được nỗi oan cho một cán bộ điệp báo. Việc bắn nhầm này rất ít người được biết, và tôi hôm nay mới biết là do anh Bì** kể lại. Chiến tranh xảy ra nhiều điều đau xót quá!
Trung đội nghĩa quân ở đồn Quán Vịt
Trung đội lính nghĩa quân ở đồn Quán Vịt chỉ khoảng mười mấy người. Trung đội trưởng Hạ* là một người tầm thước nhưng chắc nịch, lúc nào cũng khoát cái áo giáp trên người, vẻ mặt nghiêm nghị với cặp môi dày làm cho người khác rất khó gần gũi. Mỗi lần có sự đụng độ với du kích thì ông ta điều hành lính chạy răm rắp, những người lính dưới quyền đều tỏ vẻ sợ ông ta.
Một hôm ông Hạ* dẫn lính đi phục kích sớm và bắt được ông D. là cán bộ nằm vùng – người ở thôn Vùng 5 — đang trốn dưới hầm và bắn chết đem bỏ xác trên QL1. Sau vụ cướp xe Jeep, lính ngụy tỏ ra hốt hoảng và bớt hung hăng hơn. Ông Hạ* sợ bị trả thù nên chuyển đi nơi khác. Đến ngày giải phóng (tháng 3 -1975) tên Hạ* bị bắt, hôm ấy anh em của ông D. đánh hắn lộn nhào như một trái banh, may lúc ấy có ông Gặ* là bí thư đảng ủy xã Phổ Thuận đến can ngăn kịp thời, ông Gặ* nói:
– Bây giờ đã giải phóng, những tên có nợ máu thì sẽ được giao lên trên để cách mạng trừng trị, mọi người không được tự ý trả thù cá nhân.
Nhờ thế mà tên Hạ* mới thoát chết.
Sau khi tên Hạ* chuyển đi nơi khác thì ông La** lên thay chức trung đội trưởng. Ông La** là người có tính tình hiền lành nên những người lính trong trung đội nghĩa quân khi ấy chẳng thấy ai hung dữ với dân. Hằng ngày trung đội làm nhiệm vụ giữ an ninh trên đoạn đường khoảng 2km, từ cầu Vinh Hiển ra đến Cầu Nước Mặn, tối rút về đồn Quán Vịt.. Lính nghĩa quân trang bị vũ khí rất là đơn giản, toàn trung đội chỉ có một khẩu M79, còn lại là AR15, nên khi gặp du kích tổ chức rào đường hay đánh nhau thì lính ở đồn Quán Vịt không bao giờ tham chiến, mà gọi lính địa phương quân từ trong quận ra giải quyết.
Một hôm đang ngồi chơi nói chuyện thời sự với ông La** trung đội trưởng thì mẹ tôi hỏi:
– Chú có học tiểu sử ông Hồ Chí Minh không?
– Hồi nhỏ đi học có học nhiều chứ
– Chú thấy sao? Ông Hồ có tiểu sử xuất sắc và tài giỏi quá phải không?
– Tiểu sử của ông Hồ thì rất là hấp dẫn rồi. Tài năng ông Hồ thì các ông Diệm, Thiệu, làm sao mà bì kịp. Cho nên phe ông Hồ có nhiều người theo là thế.
Nói đến đây rồi mẹ tôi và ông La** cũng chẳng nói gì thêm. Hồi đó khi nói về Hồ Chí Minh thì ngay cả những tên ác ôn tôi thấy cũng chẳng bao giờ có lời lẽ xấc láo. Bác Hồ là niềm tin yêu với mọi người dân Việt Nam.
Ngày nào cũng có những người lính nghĩa quân đến nhà cho nên cả trung đội lính nghĩa quân ở đồn Quán vịt đa số là những người quen biết với gia đình tôi. Trong trung đội, mỗi người cá tính. Ông Lu** thì ít nói, người hơi già, nhỏ con nhưng lại vác M79, trên mình luôn khoác cái áo mang đạn với một hàng đạn M79 trước bụng, Anh Na* người nhận làm con nuôi của mẹ tôi thì hay kể chuyện về gái gú, kể về các con đĩ ở Đức phổ và Quảng ngãi. Anh Na* mang máy truyền tin, mỗi lần bắt sóng hay gọi đi đâu thì luôn dùng tiếng lóng để nói chuyện, qua nhiều lần nghe gọi tôi đã biết được cái từ “con cái” trong khi gọi, ví dụ câu: “Anh cho con cái nó đến ngay đi” tức là: “Anh cho lính tráng nó đến ngay đi”. Phụ trách máy vô tuyến thì giữ súng ngắn và luôn theo sát trung đội trưởng.
Anh Ca* là người quen biết với nhà tôi cũng từ lâu và cũng hay gọi mẹ tôi là má, anh có tướng mã rất đẹp trai giống như nghệ sĩ, đầu tóc hay để dài và quần áo thường ủi hồ thẳng nếp. Anh kể rằng khi chưa đi lính anh thích bắn chim, mượn cây súng của anh lính kia mà không được nên đã đăng lính để được tha hồ bắn súng, bây giờ ngán ngẫm quá, muốn trút bỏ bộ đồ lính mà chẳng biết làm sao.
Một buổi tối các ông giải phóng về tổ chức mitinh ở xóm tôi, có bắt loa hát những bài hát địch vận vào đồn Quán Vịt. Sáng ra anh Ca* đến nhà và hỏi mẹ tôi.
– Hồi hôm ở ngoài nầy miting hả má? Họ nói gì thế?
– Họ mitinh nói chuyện thời sự ấy mà, mà họ có hỏi thăm mày nữa đấy
– Ủa! Họ nói gì về con? Mà có nói ai nữa không?
– Họ nói bà nhận thằng Ca* làm con nuôi mà sao nó hung hăng bắt gà bẻ bí của dân?
Anh Ca* tái mặt lắp bắp nói: – Họ nói thế à?
– Ờ! Họ hăm rồi đấy, mày đừng làm thế nữa
Thật tình là buổi mitinh hôm đó không ai nói gì, nhưng mẹ tôi biết được anh Ca* có bắt gà của ai đó ở xóm ngoài nên nói lên như vậy, ai dè đánh trúng ngay tim đen làm anh ta tái mặt. Cũng từ đó anh ta trở nên hiền khô, không nghe ai nói bắt gà, bẻ bí nữa. Quen thân với lính mới dám nói như thế và làm công tác địch vận đã có kết quả rỏ rệt.
Một hôm, thấy anh Ca* đến nhà với cái đầu 3 phân trộc lốc. Tôi nói.
– Ồ! Anh Ca* hôm nay có cái đầu đẹp quá ta
Mấy anh lính khác cười ầm lên, anh Ca* thì lặng lẽ bỏ đi đến nhà khác. Tôi hỏi mấy anh khác sao nay anh Ca* lại hớt tóc như thế, thì anh Na* nói.
– Hôm qua trung đội nghĩa quân bị quận trưởng Đức Phổ Đo** Hi** về kiểm tra và thằng Ca* bị quận trưởng đánh 10 hèo vì tội để tóc dài đấy.
Tôi đã thấy chỉ huy lính sư đoàn 2 đánh lính nhiều rồi, nhưng hôm nay mới nghe quận trưởng đánh lính đấy. Mà đúng rồi, quận trưởng khi ấy là thiếu tá trưởng chi khu nên lính trong quận là quân của quận trưởng nên việc đánh lính sau này nghe thường xuyên. Trong quân chủ lực ngụy, những người lính ở chiến trường ngủ quên hay hút thuốc trong khi gác.v.v… Mà gặp tên chỉ huy hung bạo thì bị đánh đập tàn khốc như những tù nhân trong tù. Thật là một đạo quân phát xít! Còn ông La** thì tôi chẳng thấy ông đánh lính bao giờ, những người lính được cho về nhà ở thị trấn có khi ra đơn vị trễ một hai ngày cũng chẳng nghe bị kỉ luật. Có lẽ ông đi lính cũng vì sự bắt buộc mà thôi.
Bài hát giải phóng trong miệng lính
Một bữa nọ tôi nghe một người lính nghĩa quân hát bài hát:
Ghé về thăm lại vùng đông
Nghe tình đất mẹ thắm trong tim này
Sa Huỳnh vẫn mát bóng dừa
Biển xanh thuyền lại sớm trưa đi về…
Tôi nói:
– Anh hát bài hát giải phóng nhé!
– Bây giờ hòa bình rồi mà
– Hòa bình rồi mà sao anh không về với vợ con mà còn cầm súng?
Anh lính đó cười to và nói với người lính kia.
– Thằng nhỏ nó bảo tao sao không bỏ súng về với vợ con mà còn đi lính kìa
– Thì anh nói hòa bình rồi mà?
Hai người lính chỉ cười mà không nói gì nữa. Hai tiếng “Hòa bình” là một âm thanh trìu mến, là niềm mong đợi khát khao của những người lính, của mọi người dân khi ấy.
Một vụ ám sát
Hôm ấy đi học về đến nhà thấy ở nhà có nhiều lính và cả những người mặt đồ savin. Một người đàn ông cở 40 tuổi với thân hình gầy nhom đang ngồi trên một chiếc ghế để ngoài sân. Tôi chạy vào nhà hỏi bà ngoại tôi.
– Sao hôm nay có chuyện gì vậy ngoại?
– Ông Bì** ấp trưởng đã bị ám sát – Bà ghé vào tai tôi nói thầm
– Bắn chết ở đâu? Ai bắn?
– Ở xóm ngoài, ai mà biết!
Tôi hỏi người đàn ông ngồi ghế ấy là ai thì được bà cho biết đấy là ông D*, người ở xóm ngoài, ông Bì** ấp trưởng thôn Vùng 5 bị bắn chết ngay trước ngõ nhà ông D*, nên ông bị bắt vào đây để thẩm tra. Tôi nhìn mà ái ngại và lo lắng cho số phận của ông D* quá. Có lẽ những người mặc đồ savin đang ngồi trong nhà ông tôi là cảnh sát quận, và chắc đã thẩm vấn xong rồi nên tôi thấy không có ai hỏi gì nữa. Một lúc sau thấy có một người lính sư đoàn 2 đi tới, tôi chợt nhận ra đó là anh Hạ**, người trung đội trưởng đã ở nhà tôi những ngày giáp tết 1973, là người đã cho tôi bắn súng AR15 để chào đón giao thừa đêm ấy. Có lẽ người nhà ông D* cũng quen biết anh Hạ** nên đã chạy ra Mộ Đức tìm nơi đóng quân của anh và nhờ anh can thiệp. Anh Hạ** vào nhà nói gì đó với các tên cảnh sát một hồi lâu và mọi người bước ra. Mẹ tôi khi ấy cũng bước lại và nói thêm vào là ông D* lâu nay là người dân lo làm ăn chứ chẳng tham gia bên nào. Sau đó vì không có chứng cứ gì nên ông D* cũng được thả ra.
Thực ra việc ám sát ấp trưởng Bì** là do một học sinh được du kích trao súng col45 và đã hạ sát ông ta bằng hai hai phát đạn ở cự li rất gần. Mọi người lớn đều biết chuyện ấy, nhưng bọn địch chẳng thể điều tra ra vì lòng dân đã hướng về cách mạng, hơn nữa tụi cảnh sát chỉ thẩm vấn trong diện hẹp những nhà gần đó chứ không dám đi sâu vào những xóm xa hơn nên không thể tìm ra thủ phạm.
Những sĩ quan ngụy biệt phái đi dạy ở các trường trung học hay những thầy giáo tham gia làm mật vụ cho địch cũng là những đối tượng bị học sinh ám sát.
Sáng hôm ấy ở trường Bán công Lê Văn Duyệt xảy ra một vụ nổ lactic, toàn trường bị một phen hoảng loạn. Chất nổ tự tạo có hẹn giờ thường gọi là lactic. Hôm đó thầy Đ. Hết giờ dạy ra xe honda để đi về, ra đến sân trường thầy quên cái gì đó ở trong lớp bèn quay vào lấy, thì một tiếng nổ ầm văng cả yên xe. Cả trường nhốn nháo mạnh ai nấy chạy. Quả lactic đó là do một học sinh đã lén đặt dưới yên xe vào giờ ra chơi, và thầy Đ. Đã thoát chết trong gang tấc.
Từ ngày có vụ cướp xe Jeep, đặt lactic, rồi ông Bì** bị ám sát thì bọn ngụy quân và ngụy quyền càng sợ hãi hơn. Những tên ác ôn, xã trưởng, ấp trưởng chỉ dám về xã Phổ Thuận vào buổi sáng, sau khi lính ở các đồn đã mở đường xong, đến trưa là lo về quận, chẳng khi nào dám ở lại đến 3h chiều.
Một buổi sáng tôi và mẹ đi đến Hội đồng xã để làm lại giấy khai sinh cho tôi. Hội đồng xã nằm ven QL1 ở thôn Vùng 4 gần đồn Quán Vịt. Trước nhà Hội đồng là một cái lô cốt bằng bê tông có lổ châu mai đen ngòm. Vào phòng làm việc thì cũng có một vài người đến chứng giấy tờ gì đó. Trước mặt tôi bây giờ là 2 hung thần của xã Phổ Long (Phổ Thuận), một là xã trưởng Lươ** Hoà**, một là tên ác ôn Dươ** Gi**, người đã bắn chết Dì Bằ** của tôi vào năm 1971. Tôi cảm thấy sợ hãi và nhỏ bé trước hai con người to lớn ấy. Ông Lươ** Hoà** thì cái mặt đỏ gay như gà đá, cầm lá đơn đọc xong rồi kí một chữ kí dài như cái lò xo rất đẹp gần hết trang giấy, ông Gi** thì tướng người cao lớn có bộ râu dê, nhìn mẹ tôi cười cười và nói.
– Chị đi làm giấy nhỏ tuổi cho thằng này để lâu tới tuổi đi lính phải không?
– Chừng nó đủ tuổi đi lính thì chắc hết chiến tranh rồi đấy.
Mẹ tôi nói thế chứ khi ấy có ai biết được khi nào mới hết chiến tranh, nhưng đó là niềm hy vọng của mọi người, không biết những người có nợ máu như ông Dươ** Gi** có mong đến ngày hòa bình không nhỉ?
Sau hiệp định Pari thì chiến sự trên quê tôi cũng không còn khốc liệt như hồi năm 1972. Đặc biệt là thời gian này trở về sau không hề thấy cảnh máy bay ném bom nữa. Có lẽ Mĩ đã rút quân và cắt viện trợ nên không đủ bom để thả như trước kia. Tuy nhiên, việc rào đường, du kích tổ chức chặn đánh địch vẫn diễn ra thường xuyên. Những lần như thế thì cũng đi tản cư, đến trưa lại về. Nếu đi tản cư thì thường là lúc 5h sáng mọi người gồng gánh, dắt bò đi rào rào cười nói vui vẻ trên đường QL như đi xem hát.
Một vụ bắn nhầm và một vụ hiếp dâm
Do nhiều lần bị rào đường chặn đánh nên lính biệt động và lính sư đoàn 2 thỉnh thoảng vẫn đi phục kích vào ban đêm, nhiều người dân đi tháo nước ruộng sớm là nạn nhân của những vụ phục kích này.
Một buổi sáng sớm, chú Mười của tôi đi xe đạp từ đâu chạy đến dừng ngoài ngõ báo tin cho mẹ tôi.
– Chị ba ơi! Cha bị bắn chết rồi!
Nói xong chú vội quay xe đi ngay. Nghe tin tôi và mẹ rụng rời cả hai tay, ông nội tôi đã chết rồi sao? Tôi vội vàng lấy xe chở mẹ chạy về ngay thôn Thiệp Sơn. Đến nơi thì mới biết người chết không phải ông của tôi mà là ông Gi** nhà gần đó. Chú tôi khi đêm ở nhà bà con dưới An Sở về đến đầu thôn nghe người ta báo nhầm nên quay xe xuống báo nhầm tiếp cho mẹ tôi. Tôi chạy vào nhà ông Gi** xem sao thì cũng có đông người ở đấy. Xác ông được để trên chiếc giường tre, cái đầu bị bắn toát loát đổ ra một đống não được mọi người hốt đem về để sát bên. Lúc ấy có anh Chá** là con bác tôi cũng đến thăm. Anh kể lại.
Khi mờ sáng anh nghe mấy tràng súng rộ lên ở bìa xóm, tên chỉ huy ở tại nhà anh bắt máy truyền tin.
– Báo cáo anh! Em vừa mới tiêu diệt được một tên Việt cộng
– Để yên đó! Gài lựu đạn dưới xác, chờ tụi nó đến lấy xác.
– Dạ!
Một hồi lâu sau, khi trời đã sáng rỏ, anh lại nghe thấy đối đáp giữa tên lính phục kích và tên chỉ huy.
– Báo cáo anh! Một ông già đi dạo ruộng chứ không phải VC
– Đồ ngu! Sao mày không quan sát gì hết vậy? Người dân đi ruộng mà mày đui rồi sao? Chết rồi! Thôi rút lẹ lên!
Hôm ấy ông Gi** đi sớm để tháo nước ruộng, khi đi ông vẫn mặc đồ trắng đường hoàng nhưng tên lính ngủ gật, giật mình sao đó mà nả cả tràng súng vào người ông. Bà Gi** thì ôm xác chồng khóc lóc thảm thiết rồi chuẩn bị mai táng, chứ khi ấy thì chẳng biết thưa kiện ai.
Một lần vào sáng sớm, mấy người đàn bà đi gặt tụ tập đến nhà tôi bàn tán.
– Hồi hôm, bà C. bị lính sư đoàn 2 hiếp dâm
– Bà C. ở xóm 21 phải không?
– Đúng rồi!
Rồi một người kể tiếp. Hôm ấy lính sư đoàn 2 đi kích, nữa đêm một tên quàng tấm nilon vào gõ cửa nhà bà C. rồi nói.
– Mở cửa mau!
– Ai đó? Bà C. hỏi
– Quân giải phóng đây! Có tên ngụy trốn trong nhà bà phải không?
– Đâu có ai ở đây đâu?
Bà C. nghi ngờ và sợ lắm nhưng phải đành ra mở cửa để xem thử chuyện gì. Khi cửa đã mở ra thì hắn nói.
– Các đồng chí ra ngoài cảnh giới lính nghe chưa!
Nói xong, hắn kéo người đàn bà vào nhà rồi hãm hiếp. Nhà bà C. chỉ có 2 đứa con nhỏ đang ngủ say nên chẳng phản ứng được gì, nhưng khi cưởng hiếp bà vẫn nhận ra bộ đồ trên người hắn là lính sư 2. Khi xong chuyện, hắn bỏ đi thì mấy người hàng xóm mới dám chạy qua. Dù biết rõ đơn vị lính hôm ấy nhưng chẳng biết tên nào để mà đi tố cáo. Vã lại, tố cáo thì cũng sợ chúng trả thù, vì chuyện lính ngụy hiếp dâm vẫn hay xảy ra ở những vùng chiến sự nhưng thấy có tên nào bị ra tòa án binh đâu.
Đến trưa khi lính nghĩa quân đã ra mở đường rồi kéo đến nhà tôi cũng bàn tán sôi nổi về chuyện đó. Ông La** trung đôi trưởng nghe ai trên ấy kể lại và nói.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 15. Chiếc võng dưới nấm mộ
Tập sau: Tập 17. Năm 1974 và đêm văn công giải phóng
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên. Ban biên tập bỏ một câu thuật lại chi tiết thô về vụ cưỡng hiếp, vì tôn trọng nạn nhân.


