Ký ức xa quê
Kí ức tuổi thơ máu lửa – Tập 17: Năm 1974 và đêm văn công giải phóng
· 16 phút đọc
Hồi ký của thầy Lam (nick Lamson81), người con xã Phổ Thuận, Đức Phổ, viết trên diễn đàn Người Quảng Ngãi từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011: tuổi thơ giữa chiến tranh từ năm 1967 đến ngày hòa bình 1975. Tập 17/23, thuộc Phần 4 – Sau Hiệp định Pari. Ban biên tập đăng lại nguyên văn, giữ ngày đăng gốc.
Thời gian này tụi lính sư đoàn 2 và Biệt động quân có những trận đánh nẩy lửa với đại đội nữ Hồng Gấm ở Bình Mĩ, Phổ Ninh… Mà sau này tôi mới được biết, cho nên lúc này lính sư đoàn 2 hay đi phục kích đêm. Bây giờ là mùa đông, trời lạnh lắm, thường sáng mẹ tôi vẫn dậy sớm để nấu cháo heo. Tôi cũng hay dậy sớm để vào bếp lửa ngồi ấm. Một sáng sớm, mẹ tôi đang ngồi chụm lửa thì một tên lính ở đâu xộc tới, ngồi xuống đưa tay quàng qua vai. Mẹ tôi hốt hoảng la lên.
– Á! Cái chú này làm cái gì thế?
Rồi vùng tung ra, đứng dậy, khi đó nghe tiếng la tôi cũng trên nhà chạy xuống. Tên lính bị hố, nhìn phía sau cứ tưởng là một cô gái nhưng bây giờ mới thấy mẹ tôi đã lớn tuổi. Lúc này bà Chín, nhà gần bên cũng chạy qua. Tên lính quê độ quá đi ra sau, nghĩ sao quay vô rồi giả lãng nói.
– Bà kia! Cái mũ của tôi đâu? Cái mũ của tôi đâu?
– Tôi có biết cái mũ nào của chú đâu? Mẹ tôi nói.
Tên lính vừa nói vừa đưa chân đá mấy cái vào người mẹ tôi rồi bỏ đi. Thật là một tên lính hung hăng và ngu ngốc!. Hồi đó gặp lính sư đoàn 2 Trung đoàn 4 thì ai cũng ớn, kể cả lính Nghĩa quân và lính Xây dựng nông thôn.
Người lính Xây dựng nông thôn
Lính Xây dựng nông thôn thường mang khẩu Cacbin và mặc bộ đồ đen. Mỗi thôn có một người đứng cánh có nhiệm vụ phổ biến các kế hoạch xây dựng nông thôn như làm trường học, đưa về phổ biến các giống lúa mới. Ông Đứ* là người lính Xây dựng nông thôn đứng cánh ở thôn vùng 5, Ông đã 40 tuổi, hằng ngày mỗi buổi sáng khoảng 9h khi lính Nghĩa quân đã mở đường xong xuôi thì ông Đứ* mới cưỡi xe đạp ra.
Hôm ấy, ông Đứ* đến nhà của tôi vào giờ trưa và đứng ngoài sân gọi vào:
– Có ai ở nhà không?
– Có ai ở nhà không?
Chẳng may khi ấy có mấy tên lính sư đoàn 2 đang ngủ trong nhà. Một tên chạy ra và nói:
– Thằng nào la lối om sòm đó? Phá giấc ngủ của tao hả?
– À! Tôi gọi gia đình chứ phá gì ai?
Ông Đứ* vôi dắt xe đi, tên lính sư đoàn 2 chạy theo và đưa tay đánh “bốp, bốp” vào mặt ông Đứ* làm rơi cả mũ. Đánh xong hắn bỏ vào nhà, ông Đứ* không dám nói lại tiếng nào, lượm mũ lên rồi dắt xe đạp đi. Có súng trong tay như ông Đứ* mà tụi lính còn hành hung, huống hồ chi là người dân, không có một tấc sắt trong tay thì sợ tụi nó biết chừng nào.
Khi tụi lính sư đoàn 2 rút đi thì tụi lính Biệt động quân lại kéo đến. Hai sắc lính này không bao giờ thấy đóng quân gần nhau, nếu đóng quân chung địa bàn thì sẽ đánh lộn nhau to, vì cả hai loại đều hung dữ. Đặc biệt khi đi hành quân dù dài ngày cũng chẳng thấy có người anh nuôi nấu cơm mà chỉ ăn cơm gạo sấy với đồ hộp. Lính sư 2 đóng quân ở chốt thì ban đêm hay bắn cối vô tội vạ ra chung quanh, khi ấy thì người dân sẽ lãnh đủ.
Trái M79 trên mái nhà bác
Một buổi sáng có một mình tôi ở nhà thì có ai đó từ ngoài ngõ báo tin:
– Nhà Bác mày bị cối bắn trúng đêm qua bị thương hết cả nhà rồi!
Tôi vội vàng lấy xe đạp chạy về nhà bác xem sao, đến vùng 4 thì gặp chiếc xe Lambetar chở cả nhà bác tôi chạy xuống. Trên xe có 2 ca nằm trên võng, Bác tôi và chị Ng* vẫn ngồi trên xe nhưng mặt vẫn còn dính dấu máu. Tôi thả xe đạp xuống kêu: “Bác hai, bác hai!” Nhưng không ai nghe thấy, rồi chiếc xe chạy đi ra hướng thị xã Quảng Ngãi. Tôi đứng đó khóc ròng, lo lắng cho các anh chị của tôi, không biết như thế nào mà có hai người nằm trên võng. Sau đó tôi tiếp tục chạy lên nhà bác. Đến nơi đã thấy có nhiều người hàng xóm chạy đến. Nhìn vào nhà, tôn trên mái bị một lổ trống hoát bởi sức nổ của quả đạn M79 do lính trên đồi Chóp Vung bắn xuống. Khi ấy mọi người đang ngủ trên nhà. Chị Hai Đà* bị một mảnh đạn vào trong sọ, anh Chá** khi ấy nằm quay lưng về hướng nổ nên bị một mảnh đạn vào lưng, nếu nằm quay hướng ngược lại thì chắc anh đã chết rồi. Bác Hai và chị Ng* thì chỉ bị thương nhẹ.
Anh Chá** thì sau đó được bác sĩ gắp mảnh đạn ở lưng ra, chị Đà* sau một tháng nằm viện cũng trở về nhưng mảnh đạn vẫn còn ở trong sọ không lấy ra được. Những năm đầu thì cũng bình thường, càng ngày mảnh đạn càng đi sâu vào não gây nên những cơn co giật. Từ năm 1979 chị nằm liệt giường, Bác tôi phải đút ăn và đổ cứt đái hằng ngày thật là vất vả. Suốt 8 năm như thế và chị đã mất vào năm 1987.
Năm 1974
Tết năm ấy (1974) chị Án* của tôi cũng từ Sài Gòn về. Căn nhà nhỏ của tôi lại thêm niềm vui, có nhiều bánh kẹo Sài Gòn, Các anh lính lúc nào cũng đến chơi. Trong số đó có anh Thạ** là lính nghĩa quân ở đồn Quán Vịt, đã biết chị tôi từ năm trước và có viết thư qua lại thăm hỏi. Mẹ tôi bảo chị đưa thư anh Thạ** gởi để xem. Tôi cũng có xem, qua thư thì anh Thạ** đã tỏ tình với chị, Hai người đang thời gian tìm hiểu nhau. Còn các anh Na*, anh Ca* vẫn hay gọi mẹ tôi là má thì đã có vợ con. Hết tết thì chị cũng trở vô Sài Gòn, anh Thạ** và anh Ca* sau đó cũng đổi đi đơn vị khác ở xã Phổ Tân (Phổ Minh). Mấy tháng sau anh Ca* trở lại thăm gia đình và báo tin anh Thạ** đã tử nạn trong một trận đánh với du kích nơi ấy. Anh Ca* nói hôm ấy trung đội bị phục kích bất ngờ khi đang đi vào xóm, anh Thạ** bị trúng đạn AK từ loạt đạn đầu tiên, anh phải vác xác anh Thạ** trên vai và vừa bắn vừa chạy.
Hè năm đó chị tôi có về thăm nhà, được biết anh Thạ** đã chết, chị có dẫn tôi vào tìm thăm gia đình anh. Nhà anh ở xã Phổ Đại (Phổ Hòa), vào đây mới được biết hoàn cảnh của anh cũng giống gia đình tôi. Cũng nếp nhà tranh, cha anh bị pháo Mĩ bắn chết từ năm 1967. Nhà chỉ có mẹ già và mấy người em gái, anh là con trai đầu bị bắt đi quân dịch được 2 năm nay. Khi nghe giới thiệu tên tuổi thì người mẹ nghã đầu vào vai chị tôi khóc nức nở, có lẽ bà đã nghe anh Thạ** nói nhiều về chị của tôi. Qua những năm dài trong chiến tranh với những gì mình đã chứng kiến thì thật lòng tôi chẳng ưa gì lính ngụy, nhưng anh Thạ** cũng như nhiều anh lính nghĩa quân khác rất hiền lành nên tôi vẫn dành cho nhiều tình cảm. Vì hoàn cảnh bắt buộc mà họ phải cầm súng và khoát áo lính mà thôi. Nhớ một lần chị Án* và tôi lên quốc lộ đón xe vào thị trấn Đức Phổ chơi, chờ hoài mà chẳng có xe thì có một chiếc xe Jeep ngừng lại rất lâu. Người sĩ quan trên xe cứ bảo hai chị em lên xe cho đi nhờ, chị tôi cũng bảo lên xe nhưng tôi kiên quyết từ chối. Chiều về chị kể lại cho mẹ tôi nghe chuyện ấy, mẹ tôi bảo.
– Nó nghĩ vậy mà đúng đấy, lỡ trên đường mấy ông du kích bắn vào xe thì chết
Tôi thì lúc ấy không hề nghĩ là ngồi trên xe nhà binh sẽ dễ bị ăn đạn mà thực tình là tôi không ưa lính ngụy nên không thèm đi quá giang xe mà thôi.
Những đêm bắc loa binh vận
Thời gian sau tết năm 1974 trên quê tôi không thấy những trận đánh lớn mà thường xuyên là những trận du kích rào đường, quấy phá vào buổi sáng để làm gián đoạn sự chuyển quân của địch bằng cơ giới trên QL1. Buổi tối thì hầu như đêm nào mấy ông giải phóng cũng về tổ chức mitinh rồi bắc loa phát vào đồn Quán Vịt để làm công tác binh vận. Khi ấy thường hát 2 bài như thế nầy.
Bài 1: Hát theo làn điệu dân ca Bài chòi (Không còn nhớ đầu đề)
Đêm khuya vắng bóng trăng tà nghiêng đỉnh núi
Chim vịt sầu gọi bạn suốt thâu canh
Suốt mấy năm trường em mãi nghĩ đến anh
Khi nghe tiếng súng tổng tấn công toàn Miền nam nổi dậy…
Bài 2: Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường
Nhạc và lời của Trương Quang Lục
Bài hát hiện nay được chọn làm nhạc hiệu cho đài phát thanh truyền hình Quảng Ngãi
Anh từng nói với em về Quảng Ngãi. Đất anh hùng sinh du kích Ba Tơ, trong kháng chiến từ núi rừng sông bãi, Không cho quân giặc chiếm bao giờ…
Những lần mitinh như thế cũng tổ chức chào cờ Mặt Trận. Tôi nghe các anh du kích hát bài quốc ca của chính phủ CMLTCHMNVN nhiều lần nên thuộc làu, và cũng thường đứng nghiêm rồi hát theo khi chào cờ. Có hôm trong cùng một ngày thứ 2, buổi sáng đi học tôi lại phải chào cờ vàng 3 sọc đỏ và hát quốc ca của VNCH, tối về dự mitinh lại chào cờ Mặt Trận và hát quốc ca của MTDTGPMNVN.
Và một điều đặc biệt nữa mà sau này tôi mới biết, đó là cả 2 bài quốc ca đều do cùng một nhạc sĩ sáng tác, đó là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.
Bài 1: Giải phóng Miền Nam
Quốc ca của Chính phủ CMLTCHMNVN
Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước.
Diệt Đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước.
Ôi xương tan máu rơi, long hân thù ngất trời.
Sông núi bao nhiêu năm cắt rời…
Bài 2 Tiếng gọi thanh niên
Quốc ca của VNCH
Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền…
Trong bài “Tiếng gọi thanh niên” nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết năm 1941 với câu mở đầu là:
“Này anh em ơi, tiến lên dưới cờ giải phóng”, nhưng Chính quyền Sài Gòn sửa lại là: “Này công dân ơi…”
Những lần cách mạng tổ chức Mitinh và bắc loa binh vận như thế, lúc đầu thì địch cũng có bắn M79 ra, nhưng chả trúng vào đâu vì cái loa được đặt ở xa chổ mitinh. Sau này chúng chỉ nằm im trong đồn để nghe hát chứ chẳng bắn ra viên đạn nào.
Xem văn công giải phóng biểu diễn
Ngoài những đêm Mitinh thì có lần tôi còn được xem văn nghệ của đoàn văn công giải phóng.
Tối hôm ấy, mới vừa choạng vạng mà đã thấy mấy anh du kích xuất hiện. Anh C* là du kích xã Phổ Thuận đến nhà tôi nói.
– Tối nay bà con mình đi xem văn công giải phóng biểu diễn
– Biểu diễn ở đâu? Rủi như gặp lính kích đánh nhau thì làm sao? – Tôi hỏi lại
– Không có đâu! Anh em du kích đã gác hết bên ngoài rồi, ra xóm sau mà xem, hay lắm.
Tôi háo hức đòi mẹ cho đi. Lần đầu tiên đi xem biểu diễn văn nghệ thử nó như thế nào. Tối hôm ấy anh C* dẫn tôi và Dì Th** cùng đi xem.
Dì Th** là người bà con, lâu nay vẫn chạy tản cư lên trú ngụ ở nhà tôi. Một hôm tôi vô tình kéo chiếc chiếu chổ dì nằm thì thấy bật lên một xấp thư. Tôi tò mò cầm lên xem thì ra đây là những lá thư của một anh lính dù. Những bức thư đã ố vàng nhưng nét chữ trong thư viết nghiêng rất đẹp và rõ ràng. Các lá thư được gởi từ nơi chiến trường Quảng Trị nóng bỏng của mùa hè đỏ lửa 1972. Trong thư, với những câu văn tả cảnh vật, không gian vắng vẻ nơi núi rừng vào những buổi chiều, cảnh cô đơn của người lính ngồi gác dưới trời mưa rả rích trong bóng đêm với ánh hỏa châu và pháo sáng lập lòe. Tả cảnh lính chui rúc trong công sự vì những đợt pháo kích suốt cả ngày… Nói chung anh lính nầy có tài văn chương, cộng với hoàn cảnh nơi chiến trường nên đã viết những lá thư tình rất hay, rất xúc động. Tôi ngồi suốt một buổi để đọc hết các bức thư ấy.
Vài ngày sau, khi nói chuyện với dì, tôi vẫn hay nói vài câu trong những lá thư ấy. Dì Th** trố mắt nhìn tôi và nói.
– Mày xem trộm thư của tao à?
– Đâu có! Vô tình cháu quét nhà thì thấy rơi ra. À! Mà bây giờ anh lính ấy ở đâu vậy dì?
– Anh ấy chết rồi!
– Ủa? Mới chết đây hả dì?
– Chết vì pháo kích ở Quảng Trị năm 72
Nói xong, dì cuối xuống đôi mắt đượm buồn nhìn về phía xa xăm. Tôi đã vô tình gợi lại nổi đau về mối tình đầu của dì trong thời li loạn. Hai năm sau ở nhà tôi, dì lại tiếp xúc và làm quen với anh C* trong những đêm anh về Mitinh, hoạt động ở làng.
Tối hôm đó anh C* dẫn tôi và dì Th** đến nơi diễn văn nghệ ở xóm sau, cách nhà 500m. Địa điểm tổ chức là cái sân nhà bà Mẫ*. Nền sân khấu được làm bằng những tấm ván gác lên những cái thùng phuy, bên trên khung sân khấu làm bằng những cây tre, có treo màn xanh đỏ, chính giữa treo một ngọn đèn Măng sông. Mọi người đã đến rất đông và đang xem các diễn viên sơn sơn, phếch phếch phấn son lên mặt. Các diễn viên đều mặt áo màu xanh da trời (loại áo mà du kích lúc ấy hay dùng), nữ thì quần vải ta màu đen, nam thì quần tây màu sẫm. Trên sân khấu có hai cái micro được treo lơ lững ngang đầu người.
Đêm ấy biểu diễn nhiều tiết mục, có đàn Ghi ta, có cả đàn phong cầm giống như cái lò xo do một người mang trước ngực kéo ra, đẩy vào kêu ò e. Mở màn chương trình văn nghệ là một anh nam và tốp nữ hát bài “Quảng Ngãi đất mẹ kiên cường”. Đó là bài hát mà tôi vẫn thích lâu nay. Trong đêm ấy ngoài bài này, tôi vẫn nhớ nhất là vở kịch “Giải phóng Ba Tơ” (Huyện Ba tơ đã được giải phóng hoàn toàn từ năm 1972 và sau này không hề bị chiếm lại) diễn lại cảnh quân ngụy tháo chạy và quân giải phóng cắm cờ trên huyện lỵ Ba Tơ. Và tiết mục dân ca bài chòi hát đối đáp của đôi nam nữ trước khi người con trai lên đường đi tòng quân đánh Mỹ.
Tựa đề bài hát thì không còn nhớ, nhưng lời ca thì nhớ rất rõ vì trước đó và sau này tôi vẫn hay hát.
Nữ: Non sông vang lừng với tiếng kèn kêu gọi
Cả nước đứng lên nghe tiếng nói Bác Hồ.
Đi lên bảo vệ nước nhà
Vì nền độc lập tự do ta không lùi…
Mọi người đứng im phăng phắc nghe bài hát mà như giục giả trong lòng, muốn lên đường tòng quân ngay. Phải công nhận văn nghệ có sức mạnh ghê gớm. Khi đã hạ màn kết thúc mà chưa thấy ai ra về vì đa số đều mới biết xem văn nghệ lần đầu và xúc động quá.
Khi ra về, tôi đi trước một quảng để cho anh C* và Dì Th** đi sau tâm sự. Nhưng rồi số dì cũng long đong, khi tình yêu lần hai đã bị mẹ của dì phản đối kịch liệt. Bà Bảy, mẹ của dì là em ruột ông ngoại tôi. Anh C* mồ côi cha mẹ từ nhỏ nên đi ở mướn chăn trâu cho nhà ông ngoại tôi, sau đó tham gia du kích, rồi bị địch bắt bỏ tù ở Phú quốc 3 năm. Ra tù anh lại về tham gia du kích tiếp tục đến bây giờ. Nhà ông ngoại tôi là gia đình địa chủ khi xưa, nên bà Bảy cũng có quan niệm “chủ, tớ” không muốn gả con cho người từng đi ở cho nhà mình. Cuối cùng sau giải phóng anh C* cũng đi lấy vợ, còn Dì Th** vẫn lỡ thì đến hơn 40 tuổi mới gặp một ông chồng già và không có con. Bây giờ dì sống với đứa con nuôi đã có cháu ở Đà Lạt. Đó là niềm an ủi của dì khi tuổi đời đã xế bóng.
Đọc tiếp
Tập trước: Tập 16. Những người lính đồn Quán Vịt
Tập sau: Tập 18. Chiến tranh tâm lý và chuyện học hành
Mục lục cả loạt: Kí ức tuổi thơ máu lửa
Bài đăng lại nguyên văn hồi ký của thành viên Lamson81 trên diễn đàn Người Quảng Ngãi (topic “Kí ức tuổi thơ máu lửa”), giữ ngày đăng gốc và giọng kể của tác giả. Ban biên tập chia tập, chuẩn lại dấu câu, thêm tiêu đề phụ (giữ các đề mục tác giả tự viết); bỏ các dòng chú thích ảnh đã mất và lời nhắn gửi Ban quản trị; áp các đính chính tác giả đã gửi sau. Tên người thường trong hồi ký được ghi ẩn (che 1–2 chữ cái cuối bằng dấu *), tên nhân vật lịch sử giữ nguyên.


