Quê hương xa quê
Sông Trà – dòng sông mẹ của người xứ Quảng
· 10 phút đọc
Thiên Ấn – Trà Giang, hai tiếng ấy từ lâu đã thành biểu tượng của Quảng Ngãi. Núi Ấn thì đứng yên một chỗ, còn sông Trà thì chảy qua đời của biết bao thế hệ người Quảng. Tôi muốn kể về dòng sông ấy, dòng sông quê tôi.
Bốn dòng sông hợp lại
Trà Khúc là con sông lớn nhất trong bốn con sông chính của Quảng Ngãi, cùng với Trà Bồng, sông Vệ và Trà Câu. Nguồn xa nhất của nó là sông Đăk Drinh, phát nguyên từ vùng cao nguyên. Đăk Drinh nhận thêm sông Tang ở ngã ba sông thuộc xã Sơn Bao (Sơn Hà), xuôi chừng bốn cây số nữa thì hợp lưu với sông Đăk Sê Lô (Sơn Tây) và sông Rhe (Ba Tơ) tại Hải Giá (Sơn Giang), và từ đó mới chính thức mang tên Trà Khúc. Sông chảy qua nhiều huyện thị rồi đổ ra biển Đông ở cửa Đại.
Hiền hòa và dữ dội
Sông Trà nhiều nước nhưng dòng chảy rất thất thường. Mùa khô, sông chỉ như dải lụa mỏng uốn quanh đôi bờ, rộng vài chục thước. Mùa lũ, cả dòng sông thành một dòng nước đục ngầu sủi bọt, băng băng chảy về xuôi, nhấn chìm cả vùng đồng bằng Sơn Tịnh, Tư Nghĩa.
Sông nuôi sống hàng vạn người hai bờ bằng phù sa màu mỡ, bằng cá tôm, nhưng cũng cướp đi bao tài sản và cả mạng người. Người Quảng còn nhớ những trận lũ lịch sử năm Mậu Dần (1878), Giáp Thìn (1964), Kỷ Mão (1999). Trận lũ năm Mậu Dần, đời Tự Đức thứ 31, dân gian gọi là trận “lụt bất quá”, đến nay vẫn còn trong những câu vè:
Ai mà thác mất đã rồi
Ai còn sống lại cũng ngồi nhịn trong
Đói mà sống cũng không xong
Thương người trôi nổi giữa dòng nước sâu…Vè Lụt bất quá
Dòng sông của thi ca
Hàng trăm năm nay, sông Trà đi vào thơ ca, nhạc, họa. Dòng sông in đậm trong tâm trí người Quảng với những lũy tre, bãi bắp, nương dâu. Dân gian đôi bờ truyền nhau câu ca:
Sông Trà có núi Long Đầu
Nước kia chảy mãi, rồng chầu ngày xưa
Tôi từng nghe chuyện “Cao Biền trảm long”. Chẳng biết thật ở đâu, nhưng người quê tôi tin là chính ở nơi này. Mà dù ở đâu đi nữa, đâu phải quê nào cũng có được những giai thoại như thế.
Nội tôi, nay đã thành người thiên cổ, từng viết:
Tổ tiên ta gốc từ Thanh – Nghệ
Qua ba lần di chuyển vào Nam
Uống từ dòng nước sông Lam
Sông Trà cuộn sóng mở mang cõi bờ…
Có lẽ từ những điều nghe người xưa kể mà nội đã đưa hình ảnh quá đỗi quen thuộc ấy vào thơ của mình.
Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, trong bài “Quê hương”, chỉ bằng hai câu đã vẽ ra cả núi Bút, núi Ấn, sông Trà:
Thiên Bút bên này, Thiên Ấn kia
Sông Trà dải lụa nước trong veo
Nghe sao mà man mác. Dòng sông như dải lụa ôm đôi bờ xứ Quảng, chắt chiu từng giọt phù sa bồi đắp cho đất. Còn nhà thơ Vũ Nhụy Nhung thì có bài “Em có về Quảng Ngãi với anh không?”, bài thơ tôi từng chép tặng một người thương ở phương xa:
Em có về Quảng Ngãi với anh không?
Trong tháng Chạp nước sông Trà xanh lắm
Người Quảng còn truyền nhau hai câu thơ hào sảng: “Trà Giang, Thiên Ấn chuông gầm sóng / Vang tiếng ngàn năm đất Cẩm Thành”. Tiếng chuông chùa Thiên Ấn hòa với tiếng sóng sông Trà, nghe hào hùng như vang mãi với đất trời. Vì sao gọi là đất Cẩm Thành? Cẩm là gấm, Cẩm Thành là thành gấm. Có lẽ vì thành nằm bên bờ Trà Khúc thơ mộng nên mới được gọi đẹp như thế chăng? Tôi cũng không rõ. Chỉ biết nếu Quảng Ngãi không có sông Trà thì cái nắng gió miền Trung khắc nghiệt kia sẽ biến nơi đây thành sa mạc mất.
Trong mười hai cảnh đẹp Quảng Ngãi, những cảnh gắn với sông Trà chiếm phần nhiều: Thiên Ấn niêm hà, Thạch Bích tà dương, Cổ Lũy cô thôn, Hà Nhai vãn độ, Long Đầu hý thủy…
Quê hương của những người con ưu tú
Đôi bờ sông Trà là quê hương của nhiều người con ưu tú xứ Quảng: Đô đốc Tây Sơn Trương Đăng Đồ và đại thần, học giả Trương Đăng Quế (làng Mỹ Khê), Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định (làng Tư Cung), thủ lĩnh khởi nghĩa Cần Vương Lê Trung Đình (làng Phú Nhơn), nhà yêu nước Nguyễn Duy Cung, tác giả “Bình Thành cáo thị” (làng Vạn Tượng), chí sĩ Cần Vương Phạm Cao Chẩm (làng Xuân Phổ)… Đây cũng là quê của nhiều tướng lĩnh như Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, và của những văn nghệ sĩ như Bích Khê, Trương Quang Lục, Nguyễn Viết Lãm.
Nhà thơ Tế Hanh có bài “Nhớ con sông quê hương” nổi tiếng. Bạn tôi bảo đó là sông Trà Bồng, quê của ông. Nhưng riêng tôi vẫn cứ muốn nghĩ ông viết về sông Trà Khúc quê mình (chí ít là chỉ mình tôi nghĩ vậy thôi):
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng treTế Hanh, “Nhớ con sông quê hương”
Tô don, con cá bống
Nhắc đến sông Trà là phải nhắc đến don và cá bống. Don, theo tôi biết, chỉ Quảng Ngãi mới có. Đó là loài nhuyễn thể sống ở vùng nước “chè hai”, tức vùng cửa sông nước mằn mặn, nhiều nhất ở cửa Đại (sông Trà Khúc) và cửa Lở (sông Vệ). Con don gần giống con hến nhưng hình bầu dục, vỏ mỏng màu vàng đen, bóng. Để có tô don cho thực khách sì sụp phải qua bao công đoạn: nhủi don vất vả, rồi ngâm, hấp, đãi don rất kỳ công, mới ra được thứ nước màu xanh nhạt, ăn kèm bánh tráng, ớt, chanh, hành và không thể thiếu tương ớt. Don ngon nổi tiếng nhất có lẽ ở bờ nam sông Trà, những nơi như Thu Xà, Phú Thọ, Vạn Tượng. “Con gái còn son không bằng tô don Vạn Tượng”, nghe mà sợ!

Hồi nhỏ, má tôi hay mua don về nấu canh rau muống, ngọt lịm tận kẽ răng sau từng hớp. Mùi quê hương sao gần gũi, bình dị quá! Tôi còn nhớ người ta gánh đôi ui đất nung, treo lủng lẳng chồng bánh tráng đầu đòn gánh, cất tiếng rao “Don đây!” nghe ngon lành làm sao. Tô don múc ra từ chiếc ui ấy thơm một mùi mà đến giờ tôi vẫn không tả được. Bây giờ quán xá sẵn, tô don khói nghi ngút nhưng sao chẳng thơm bằng ngày xưa. Có lẽ vì người ta trộn don với hến chăng? Hay tại tôi là kẻ hoài cổ, cái gì xưa cũng hơn? Tôi cũng không biết nữa.
Món nổi tiếng không kém là cá bống sông Trà, đã đi vào câu ca “Chim mía Xuân Phổ, cá bống sông Trà, kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ”. Lòng sông từ cầu Trường Xuân trở xuống nhiều sạn cát, gần cửa Cổ Lũy thì nước nhiễm mặn, nên dù cùng một dòng sông mà con cá khác nhau. Vùng nước lợ nhiều bùn cho ra cá bống mú, vi đuôi dài, da đen, thịt bở, không được chuộng. Chỉ từ bến Tam Thương trở lên quá cầu Trà Khúc, nước hơi xiết, cá trườn qua sạn cát nên da trắng, mình thon, đó mới đích thị là cá bống sông Trà.
Ở bờ bắc, ven chân cầu, có một xóm nhỏ ngày chèo ghe xúc sạn, đêm đem những ống tre buộc chì ra cắm giữa sông, gọi là “ống trúm”. Cá bơi ngược nước, lặn quanh sạn cát mỏi mệt thì chui vào ống tìm chỗ núp. Rạng sáng, người ta chỉ việc chèo ghe ra trút ống, mỗi ống nhiều lắm chục con. Cá bỏ vào giỏ “mỏ vịt” đan bằng tre, vào bờ đổ ra nia sàng lại, chọn riêng cá bống đem kho.

Riêng chuyện kho cá cho thơm, để được lâu đã đủ cho các bà nội trợ tranh luận. Phụ nữ Quảng Ngãi ai cũng tự hào có bí quyết riêng: kho bằng nồi đất, trã đất, thêm mắm muối, gừng tỏi, canh lửa liu riu năm sáu tiếng cho cá rim lại. Cá để dành cả tháng không hư, ăn không cần hâm mà vẫn thơm đậm đà, ngon nhất là với cháo trắng.
Những bờ xe nước đã thành hoài niệm
Một hình ảnh nên thơ khác của sông Trà là những guồng xe nước. Nhiều nơi cũng có guồng xe nước, nhưng ở Quảng Ngãi, nhất là trên sông Trà, chúng to lớn và hoành tráng lạ thường. Từng hàng guồng xe trải dài trên sông, lấp lánh, róc rách tiếng nước ngày đêm, làm bức tranh sông núi thêm sinh động mà hùng vĩ.

Theo P. Guilleminet trong công trình “Một ngành công nghiệp An Nam”, xe nước du nhập vào Quảng Ngãi đầu tiên ở sông Vệ, khoảng giữa thế kỷ XVIII, rồi mới đến sông Trà Khúc, nơi xe nước được dựng với quy mô và số lượng lớn. Học giả Cao Chư tìm được tư liệu khớp với ghi chép ấy, nhắc tên một người phụ nữ gọi là “Mụ Diệm”, người đầu tiên đưa kỹ thuật xe nước từ phủ Hoài Nhơn về dựng ở làng Bồ Đề. Theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” của Nguyễn Bá Trác, năm 1933 cả tỉnh có đến 96 bờ xe nước. Đến năm 1939, theo “Địa dư tỉnh Quảng Ngãi” của Nguyễn Đóa và Nguyễn Đạt Nhơn, sông Vệ có chừng 50 bờ, sông Trà Khúc trên 40 bờ.
Những guồng xe nước ngày đêm đưa nước lên tưới cho những cánh đồng ven sông trở nên trù phú. Nhưng từ khi đập dâng Thạch Nham hoàn thành, hình ảnh ấy đi vào dĩ vãng, giờ chỉ còn trong hoài niệm của người xứ Quảng.
Đập Thạch Nham và những công trình trên thượng nguồn
Trên sông Trà, giữa xã Sơn Nham (Sơn Hà) và xã Nghĩa Lâm (Tư Nghĩa), đập Thạch Nham sừng sững chặn dòng, đưa nước xanh mát của sông Trà tưới cho những vùng đất khô cằn sỏi đá. Đây là công trình thủy lợi lớn nhất Quảng Ngãi, tưới cho gần 50.000 ha.
Ngược lên thượng nguồn còn có những công trình thủy điện, thủy lợi tầm cỡ. Ở Sơn Tây có thủy điện Đăk Drinh công suất 125 MW, hồ chứa 249,3 triệu m³, đập cao 94 mét làm bằng bê tông đầm lăn, một công nghệ còn mới ở Việt Nam khi ấy. Hồ chứa Nước Trong trên sông Tang (xã Sơn Bao) dung tích 289,5 triệu m³, vừa tiếp nước cho đập Thạch Nham mùa khô, vừa phát điện, giảm lũ và chống xâm nhập mặn cho vùng hạ lưu. Cùng với đó là thủy điện sông Rhe, sông Tang, đập dâng hạ lưu cầu Trà Khúc… (số liệu theo thời điểm năm 2010).
Hẹn một dịp khác
Một dòng sông luôn mang trong mình bao hoài niệm, ký ức và cả tiềm năng dành cho người xứ Quảng. Tôi chưa muốn dừng ở đây, nhưng bài đã dài mà cũng khó kể cho hết những gì dòng sông quê hương mang lại. Thôi thì đành dừng bút, hẹn dịp khác cùng các bạn về với cửa Đại, Hà Nhai vãn độ, Thạch Bích tà dương, Cổ Lũy cô thôn, Long Đầu hý thủy…
Bài viết của một thành viên, đăng lần đầu trên diễn đàn Người Quảng Ngãi ngày 27/6/2010 với tựa “Trà Giang”. Ban biên tập sửa lỗi chính tả, chia mục và rút gọn phần trích thơ, giữ nguyên giọng văn tác giả.


